• This is Slide 1 Title

    This is slide 1 description. Go to Edit HTML and replace these sentences with your own words.

  • This is Slide 2 Title

    This is slide 2 description. Go to Edit HTML and replace these sentences with your own words.

  • This is Slide 3 Title

    This is slide 3 description. Go to Edit HTML and replace these sentences with your own words.

Showing posts with label Ghita. Show all posts
Showing posts with label Ghita. Show all posts

Cách tìm hợp âm khi đệm hát đệm hát ghitar

Đệm hát là một điều không hề đơn giản như nhiều người từng nghĩ. Đệm đàn Guitar để tán tỉnh một cô gái nào đó đã khó, đệm giỏi thì lại là cả một nghệ thuật.
Trong một cuộc phỏng vấn xét nghiệm tâm lý mới đây nhất, với câu hỏi: Người đàn ông lý tưởng của bạn là gì, 70% các cô thiếu nữ xinh đẹp được hỏi đã nói là: Một người biết chơi Guitar…có thể nói đây là một "tin vui" cho những tín đồ đam mê Guitar.

Nhưng muốn đệm hát được, dù là tự hát hay đệm cho người khác hát thì bạn cũng phải biết các hợp âm của bài hát đó. Nếu có sẵn thì coi như bạn chỉ cần theo đúng nhịp điệu, cứ chiếu theo hợp âm có sẵn mà chuyển thôi. Nhưng nếu không có sẵn, mà cái này mới là chính vì bạn khó có thể nhớ hết hợp âm cho mọi bản nhạc. Hơn nữa mỗi người lại có một giọng khác nhau, bạn không thể bắt người hát phải theo một giọng duy nhất. Nếu người hát biết và nói cho bạn biết giọng của họ thì như phần dưới sẽ bàn, bạn chỉ việc theo đúng giọng đó mà đệm thôi. Còn nếu nguời hát không biết giọng của họ là gì thì bạn một là dạo vài vòng những hợp âm quen thuộc và họ sẽ theo đó mà hát, hai là họ cứ thế mà hát, hát sai hát đúng gì cũng hát trước và bạn sẽ phải dò tìm giọng, tìm hợp âm để đệm. Nói cách khác là DÒ GAM.

A. Đầu tiên bạn cần biết :
Cơ bản:
Gam tức là hợp âm, rõ hơn thì Gam là tập hợp của 7 nốt nhạc và chia ra thành trưởng và thứ
Khi đặt 3 nốt Đồ, Mi, Sol lại với nhau chẳng hạn, ta được một tổ hợp gam Đô trưởng, hoặc đặt 3 nốt Mi, La, Đô lại với nhau, ta được một gam La thứ. Như hình vẽ bên dưới…

Hợp âm Đô trưởng (C):
Hợp âm La thứ (Am):
Tuy nhiên, bạn sẽ thắc mắc là tại sao trên hình vẽ thấy 6 nốt cho một hợp âm sao ở trên lại chỉ nói 3 nốt? Đó là hợp âm 3, ba nốt chính cần thiết cho một Gam mà bạn sẽ dùng để đệm hát.
Trên cây đàn Guitar, muốn bấm được một tổ hợp gam mà ta cần, chỉ việc dò tìm các nốt thuộc gam đó và bấm cho đủ các nốt đó trên cần đàn.

· Các điệu cơ bản:
- Slowrock bass 3 2 1 2 3
- Blue: bass 3 21 3 (21 là móc cùng một lúc 2 dây)
- Boston : bass 3 21 3 21 3
- Walz: bass 321 321 ( 321 là móc cùng một lúc 3 dây - đọc là bùm chách chách )
Và bạn cần nhớ thêm các hợp âm Am ,Dm ,Em ,C ,G7 ,F,G ,A ,D ,D7 ,Gm là có thể chơi được rất nhiều bài.

B. Các cách dò gam (tìm hợp âm) khi đệm đàn Guitar
Ngaymuaha.blogspot.com - sẽ tổng hợp thông tin và đưa ra 2 cách dò gam phổ biến nhất để các bạn tham khảo.
1. Dò gam theo kinh nghiệm chơi đàn của những tay Guitar đệm hát lành nghề
Bạn đã biết âm nhạc gồm 7 nốt chính: Đồ rê mi fa sol la si đô. Ngoài ra, còn có các nốt thăng giáng của từng nốt nhạc.
Và khi đặt 3 nốt Đồ, Mi, Sol lại với nhau, ta được một tổ hợp gam Đô trưởng, hoặc đặt 3 nốt Mi, La, Đô lại với nhau, ta được một gam La thứ. (còn vì sao lại thế thì sẽ nói sau)
Trên cây đàn Guitar, muốn bấm được một tổ hợp gam mà ta cần, chỉ việc dò tìm các nốt thuộc gam đó và bấm cho đủ các nốt đó trên cần đàn… (đơn giản thôi mà) Vậy là lại phát sinh ra một yếu tố: GAM NÀO THÌ CÓ NHỮNG NỐT GÌ?
Lại nói một chút đến các nhạc phẩm Việt Nam... có một điều không thể phủ nhận là các tác phẩm của Việt Nam ta hầu như đều thuộc dạng giai điệu đơn giản. Ví dụ như các bài hát của Trịnh Công Sơn. Chỉ cần 3 gam cơ bản là có thể đệm được hàng đống bài. (ta không bàn đến chuyện hay-dở ở đây) mà điều chủ yếu là hầu hết những tác phẩm nhạc Việt vẫn quẩn quanh ở vòng gam cơ bản (1): 1- 6 - 8 (và theo quy luật: 1thứ - 6 thứ - 8 trưởng)
Nào, ta hãy đi vào lý thuyết một chút:
Ta đã biết có 7 nốt nhạc cơ bản: Đồ Rê Mi Fa Sol La Si.. ( Viết theo ký hiệu nhạc lý: C, D, E, F, G, A, H) Nhưng thực ra để đầy đủ các nốt từ nốt Đồ - đến nốt Đố (1 quãng 8 ) ta có đến 12 nốt:
C - C# - D - D# - E - F - F# - G - G# - A - A# - H.
Dựa theo cái vòng hoà âm cơ bản (1): 1-6-8, ta lấy gam A làm gam chủ đạo, tiến lên 6 nốt ta có được D, tiến thêm đến nốt thứ 8 ta được E, vậy là với gam chủ Am, ta có tổ hợp Am - ** - E. Cứ theo cách đấy, nếu lấy gam E (mi) làm chủ đạo, ta được Em - Am - H.
Chỉ cần nắm chắc cái hoà âm cơ bản (1) kia, bạn có thể chơi được rất nhiều nhạc phẩm của Việt Nam... Và dĩ nhiên là cũng có thể dùng thêm nhiều hợp âm khác nữa đi kèm, nhưng dẫu sao điều tôi muốn nói đến đó là 3 hợp âm chính, cột sống trong một tác phẩm là như vậy...

Ví dụ cụ thể:
- Đệm Guitar cho bài: “Cát bụi”:
Hạt bụi (Am)nào hoá kiếp thân tôi, để một (**)mai tôi về làm cát (Am)bụi, (E)ôi cát bụi tuyệt (**)vời, mặt trời (E)soi một kiếp rong (E)chơi...
- Đệm Guitar cho bài: “Tóc gió thôi bay”:
Chiều (Am)mưa có một (**)người con gái nhớ (Am)quê xa vời (E)vợi, dòng (**)sông giấc mơ (Am)xưa một thời thiếu (F)nữ buồn (E)trôi, tuổi (C)thơ xưa đã (**)xa, người xưa xa cách (Am)xa, còn (**)đâu bóng quê (Am)nhà trong chiều xa (E)vắng, thuyền (C)xưa xuôi (**)dòng, người (F)xưa đã có (Am)chồng, buồn (**)vui những tháng năm bên người yêu (F)dấu, tóc gió thôi (E)bay, như ngày (Am)xưa..
(Ở bài Tóc gió thôi bay này, có thêm 2 gam phụ là Đô trưởng (C), và Fa trưởng (F))
Chắc các bạn nhận ra một điều là hầu như mở đầu, sau gam chủ đạo đều là gam 6... và trước khi kết về gam chủ đạo, cũng đều là gam 8

2. Dò gam dựa trên nền tảng lý thuyết âm nhạc và các giáo trình:
Qui luật hoà âm 1-6-8:
Để có 3 hợp âm chính cho một bản nhạc, chiếu theo thứ tự 12 nốt nhạc như quãng 8 trên, nếu Hợp âm chủ đạo là thứ nhất thì các hợp âm còn lại sẽ là thứ 6 và thứ 8. Và theo qui luật là 1 thứ – 6 thứ – 8 trưởng. Ví dụ ta lấy gam A làm gam chủ đạo, tiến lên 6 nốt ta có được D, tiến thêm đến nốt thứ 8 ta được E, vậy là với gam chủ Am, ta có tổ hợp Am – Dm – E. Cứ theo cách đấy, nếu lấy gam E (mi) làm chủ đạo, ta được Em – Am – H. Trong thời gian đầu, với những nhạc phẩm của Việt Nam, nắm vững qui luật này bạn đã có thể đệm hát được rất nhiều. Đương nhiên sẽ có thêm nhiều hợp âm phụ nữa, hơn nữa không phải mọi bản nhạc đều theo qui luật này. Ngoài ra còn có qui luật 1-4-5, sẽ bàn ở dưới, tuy vậy mình khuyên bạn dùng qui luật 1-6-8 trong thời gian đầu.

Xét một cách toàn diện, bạn cần tìm hợp âm chủ đạo, từ đó theo qui luật 1-6-8 để tìm các hợp âm còn lại, và cuối cùng là đặt các hợp âm đó vào bản nhạc.

- Tìm chủ âm
- Tìm các hợp âm
- Đặt các hợp âm vào bài nhạc.

Đến đây sẽ nảy sinh ra mấy trường hợp:

- Người hát biết chủ âm và nói cho bạn biết, ví dụ Am, khi đó nhiệm vụ của bạn là chơi đúng điệu và chuyển qua lại giữa Am-Dm-E
- Theo bản nhạc có sẵn nhưng chưa có hợp âm mà chỉ có nốt nhạc. Nhiệm vụ của bạn là dựa vào bản nhạc, tìm ra chủ âm.
- Không có bản nhạc, người hát cũng không biết chủ âm. Bạn phải dựa vào tai nghe, kinh nghiệm để tìm chủ âm. 
>>>> Xử lý:
Trường hợp thứ nhất: Việc tìm Chủ âm với trường hợp đầu coi như xong, tạm thời không bàn nữa.
Trường hợp thứ hai: Hãy nhìn vào bộ khóa ở đầu bài nhạc, ta sẽ thấy có 3 trường hợp xảy ra:

- Bộ khóa không có dấu thăng giảm: Chủ âm của bài có thể là Do trưởng (C) hay La thứ (Am)
- Bộ khóa có dấu thăng: Từ dấu thăng cuối cùng, cọng thêm nửa cung thì sẽ có tên chủ âm trưởng, rồi từ đó đếm xuống 2 nốt sẽ có tên âm giai tương ứng là chủ âm thứ.
- Bộ khóa có dấu giảm: Nếu có 1 dấu giảm (Bb) thì chủ âm của bài có thể là Fa trưởng (F) hay Re thứ (Dm) . Nếu có hơn 1 dấu giảm, thì dấu giảm ngay trước dấu giảm cuối sẽ là tên của chủ âm trưởng và sau đó đếm xuống 2 nốt sẽ có tên của chủ âm ở cung thứ

Với bộ khoá có dấu thăng hay giảm, như trên ta sẽ xác định được hai chủ âm trưởng và thứ, nhưng chưa biết đích xác sẽ dùng cái nào. Muốn biết thì bạn phải coi nốt nhạc cuối cùng của bản nhạc.

Ví dụ bản nhạc có hai dấu thăng là F# và C#. Theo trên bạn sẽ xác định được hai chủ âm là D và Bm. Nhìn vào nốt cuối nếu là nốt Si (B) thì bạn sẽ biết bài này có chủ âm là Bm

Trường hợp thứ ba: Chủ yếu là kinh nghiệm, chúng ta sẽ bàn tới ở phần sau.

· Giờ tới qui luật hoà âm 1-4-5
Nhằm tìm ra 6 hợp âm dựa vào hai chủ âm như bàn ở trên (một trưởng, một thứ). Nói chung cũng tương tự như qui luật 1-6-8, để có 3 hợp âm chính cho một bản nhạc, chiếu theo thứ tự 12 nốt nhạc như quãng 8 trên, nếu Hợp âm chủ đạo là thứ nhất thì các hợp âm còn lại sẽ là thứ 4 và thứ 5, không tính tới những nốt thăng. Ví dụ như bài nhạc thuộc cung Sol trưởng (G) nghĩa là âm giai tương ứng là Mi thứ (Em). Dùng luật 1-4-5 theo nhánh G sẽ có 3 hợp âm G, C, D. Dùng luật 1-4-5 theo nhánh Em sẽ có Em, Am, B. Vậy 6 hợp âm này là G – C – D – Em –Am – B

- Lý do mình muốn bạn coi lại về quãng chính là ở hợp âm B trong nhánh Em. Tại sao lại là B mà không phải là Bm?

Ví dụ trong âm giai Am thì các nốt là A-B-C-D-E-F-G#-A, nên hợp âm thứ hai là D (theo qui luật 1-4-5). Hợp âm D co 3 nốt chồng lên nhau là Re Fa La (D F A) và nốt Fa không có dấu thăng . Quãng D-F là quãng 3 thứ , nên hợp âm thứ hai là Re thứ (Dm) . Trong khi đó tên của hợp âm thứ ba bắt đầu ở bậc 5. Chồng 3 nốt lên nhau ở Mi (E) sẽ có E – G# – B (để ý G# trong âm giai La thứ) và vì quãng E G# là quãng 3 trưởng, nên hợp âm thứ ba sẽ là Mi trưởng (E).

Ngoài hợp âm trưởng và thứ còn có hợp âm số 7, tuy nhiên ngaymuaha.blogspot.com sẽ cung cấp thông tin ở bài viết sau.
Hi vọng những thông tin mà Tiến Đạt tổng hợp sẽ hỗ trợ các bạn một phần trong quá trình học và đệm đàn Guitar. Chúc các bạn thành công.

Nhạc Lí Dành Cho Guitar Đệm Hát

Nhiều người khi mới học nhạc thường có thắc mắc, gam Đô trưởng với hợp âm Đô trưởng có gì khác nhau. Hi vọng bài viết này sẽ giúp các bạn trả lời câu hỏi đó.

Bài viết này mình trình bày 3 vấn đề:

Đầu tiên chúng mình cùng thảo luận Gam là gì?

Sau đó bàn về cấu tạo hợp âm.
Cuối cùng là kết hợp 2 phần trên để hình thành các hợp âm trong một gam.

1. Gam là gì?

1.1. Các khái niệm cơ bản

Cung & nửa cung: là khoảng cách giữa hai âm thanh. Một cung tương ứng với 2 ngăn đàn, 1 nửa cung tương ứng với 1 ngăn đàn. Lưu ý là trong 7 nốt nhạc: C D E F G A B C thì chỉ có khoảng cách giữa B và C, E và F là nửa cung. Còn lại, khoảng cách giửa hai nốt liên tiếp bất kỳ luôn là 1 cung. Các bạn có thể quan sát rõ hơn ở hình dưới. Dấu V có nghĩa là 2 nốt có khoảng cách nửa cung.
Nhạc Lí Dành Cho Guitar Đệm Hát
Nhạc Lí Dành Cho Guitar Đệm Hát
Quãng: là khoảng cách giửa hai nốt nhạc. Ta có thể hiểu, từ nốt thứ nhất đến nốt thứ 2 có bao nhiêu nốt thì ta gọi là quãng mấy đó.
Ví dụ, trong hình dưới, Ô nhịp 1, khoảng cách giữa nốt fa và nốt đô là quãng 5; ô nhịp 2, khoảng cách giữa nốt la và nốt fa là quãng 3


Quan hệ giữa cung và quãng (cái này nói thêm để mọi người hiểu tính chất quãng và cung, ai mún soạn ca khúc thì nên biết): Có nhiều loại quãng và các loại Quãng đều có tính chất riêng của nó. Người ta dựa vào cung và nửa cung để phân loại quãng. Cụ thể như sau:

1.1.1. Quãng đúng
Là các quãng 4,5,8 được cấu tạo như sau:
quãng 4: có 2 cung và 1/2 cung
quãng 5: có 3 cung và 1/2 cung
quãng 8: có 5 cung và 1/2 cung và 1/2 cung

Ví dụ:
Đô và Fa là một quãng 4 đúng. Vì giữa Đô và Fa có 2 cung (Đô-Rê, Rê-Mi) và 1/2 cung (Mi-Fa)
Đô và Đố là một quãng 8 đúng. Vì giữa Đô và Đố có 5 cung (Đô-Rê, Rê-Mi, Fa-Sol, Sol-La, La-Si) và hai 1/2 cung (Mi-Fa, Si-Đô)

1.1.2. Quãng trưởng
Là các quãng 2,3,6,7 được cấu tạo như sau:
quãng 2: có 1 cung
quãng 3: có 2 cung
quãng 6: có 4 cung và 1/2 cung
quãng 7: có 5 cung và 1/2 cung

1.1.3. Quãng thứ
Là quãng trưởng trừ đi 1/2 cung
quãng 2: có 1/2 cung
quãng 3: có 1 cung và 1/2 cung
quãng 6: có 3 cung và 1/2 cung và 1/2 cung
quãng 7: có 4 cung và 1/2 cung và 1/2 cung

1.1.4. Tính chất các quãng
Quãng 2: có tính chất là quãng nghịch (dù là trưởng hay thứ). Khi mà một đoạn nhạc nào đó được tạo nên từ quãng 2 sẽ mang tính chất ủy mị, u ám, huyền bí,…

Quãng 3: Quãng 3 trưởng: mang tính vui tươi, trong sáng. Quãng 3 thứ: u buồn, miên mang, trầm uất…

Quãng 4: không buồn, không vui

Quãng 5: không buồn, không vui, hơi yếu đuối

Quãng 6: êm dịu, nhưng yếu đuối

Quãng 7: cứng cỏi, xao xuyến, chói

Quãng 8: là một quãng thuận hoàn toàn, có tính trang trọng, đầy đặn.

1.2. Cấu tạo Gam
Gam hay âm giai là một chuỗi các nốt nhạc nối tiếp nhau thêm một trật tự nào đó. Có hai loại Gam là Gam trưởng và Gam thứ.

Thường thì Gam trưởng tươi sáng, vui vẻ và Gam thứ mang tính u buồn, tối.

Tên của Gam chính là tên của nốt bắt đầu trong các nốt nhạc liên tiếp. Ví dụ Gam C thì nốt bắt đầu (đánh vị trí số I) là nốt C.

Người ta đánh dấu các bậc của âm giai như sau: nốt ở vị trí bắt đầu đánh số là I, nốt tiếp theo đánh là II, nốt tiếp theo là III… cứ thế đến bậc VIII. Các bạn xem hình minh họa để hiểu.

1.2.1. Cấu tạo gam trưởng
Là gam mà khoảng cách giữa các nốt giống như trong gam C trưởng. Tức là:
1 cung, 1 cung, 1/2 cung, 1 cung, 1 cung, 1 cung, 1/2 cung (cũng có thể hiểu là gồm 1 quãng 3 trưởng và 1 quãng 6 trưởng)
Ví dụ:
Gam C: bắt đầu là nốt Đô: C, D, E, F, G, A, B, C.
ta thấy khoảng cách giữa các nốt đúng như trong công thức trên, tức là:
1 cung (C-D), 1 cung (D-E), 1/2 cung (E-F), 1 cung (F-G), 1 cung (G-A), 1 cung (A-B) và 1/2 cung (B-C)

Gam G: bắt đầu là nốt G: G, A, B, C, D, E, F#, G
ở đây xuất hiện F#. Lý do F phải thăng là để đảm bảo công thức trên:
1 cung (G-A), 1 cung (A-B), 1/2 cung (B-C), 1 cung (C-D), 1 cung (D-E), 1 cung (E-F#) và 1/2 cung (F#-G)

Gam D: bắt đầu là nốt D: D, E, F#, G, A, B, C#, D

Gam A: bắt đầu là nốt A: A, B, C#, D, E, F#, G#, A

Gam E: bắt đầu là nốt E: E, F#, G#, A, B, C#, D#, E
…

Để ý thấy gam nào có C# thì chắc chắn phải có F#, gam nào có G# thì chắc chắn phải có C#,F#. Gam nào có D# thì chắc chắn phải có F#,C#,G#. Như vậy, khi nhìn vào một bài nhạc viết ở giọng trưởng, mà nó có 1 dấu thăng thì ta nói ngay nó ở gam G, 2 dấu thăng thì ở gam D, 3 dấu thăng thì ở gam A, 4 dấu thăng thì ở gam E. (nên học thuộc lòng công thức này.)

1.2.2. Cấu tạo gam thứ
Là gam mà khoảng cách giữa các nốt giống như trong gam Am, nghĩa là:





1 cung, 1/2 cung, 1 cung, 1 cung, 1/2 cung, 1 cung, 1 cung.
Ví dụ:
Gam Am: bắt đầu là nốt A: A, B, C, D ,E ,F, G, A
ta thấy thứ tự giống như công thức:
1 cung (A-B), 1/2 cung (B-C), 1 cung (C-D), 1 cung (D-E), 1/2 cung (E-F), 1 cung (F-G), 1 cung (G-A)

Gam Dm: bắt đầu là nốt D: D, E, F, G, A, Bb, C, D
ở đây xuất hiện Bb. Lý do có dấu giáng là để đảm bảo công thức trên:
1 cung (D-E), 1/2 cung (E-F), 1 cung (F-G), 1 cung (G-A), 1/2 cung (A-Bb), 1 cung (Bb-C), 1 cung (C-D)

Gam Gm: bắt đầu là nốt G: G, A, Bb, C, D, Eb, F, G

Gam Cm: bắt đầu là nốt C: C, D, Eb, F, G, Ab, Bb, C

gam Fm: bắt đầu là nốt F: F, G, Ab, Bb, C, Db, Eb, F

Để ý gam nào có Eb thì sẽ có Bb… Như vậy, khi nhìn vào bài nhạc ở giọng thứk, nếu có 1 dấu b thì nó ở gam Dm, 2 dấu b thì ở gam Gm, 3 dấu b thì ở gam Cm, 4 dấu b thì ở gam Fm. Nên học thuộc.

1.2.3. Quan hệ giữa gam trưởng và thứ trong cùng 1 bộ dấu hóaKhi nhìn vào 1 bài nhạc ở một bộ dấu hóa nào đó.
 Ví dụ dấu hóa có 1 nốt #. Theo phần trên thì ta biết ngay nó có thể ở giọng G trưởng. Vậy câu hỏi đặt ra là giọng thứ của nó là gì? Để tìm giọng thứ, bạn chỉ việc đếm từ giọng trưởng xuống 1 cung và 1/2 cung.
Ví dụ: giọng G trưởng đếm xuống 1 cung là F, đếm xuống 1/2 cung nữa là E. Vậy tương ứng của G là Em.

Tương tự, khi biết giọng thứ, ta đếm lên 1 cung và 1/2 cung sẽ được giọng trưởng tương ứng.
Ví dụ: giọng Gm. G đếm lên 1 cung là A, đếm thêm 1/2 cung nữa sẽ là A#. A# chính là Bb. Nên giọng trưởng tương ứng là Bb. (vì trong bộ khóa của gam thứ thường có dấu b nên ta quy nốt theo dấu b).

2. Cấu tạo hợp âm
Hợp âm là sự kết hợp các nốt theo chiều dọc và chiều ngang có quy luật.
Quy luật của hợp âm là 1+3+5+7+9+11+13.
Ví dụ: hợp âm C, ta lấy C làm bậc 1, đếm lên các nốt ở bậc 3(E) và 5(G): ta được hợp âm C. thêm nốt bậc 7(B) ta được hợp âm C7, thêm nốt bậc 9(D) ta được hợp âm C9…

Các loại hợp âm
Hợp âm trưởng: khi quãng 3 có 2 cung (quãng 3 là quãng 3 trưởng)
Ví dụ: hình thành hợp âm C trưởng. hợp âm C gồm các nốt ở 1,3,5 là C,E,G. Ta để ý nốt quãng 3 của C là E. E cách C 2 cung (C-D,D-E). Như vậy C trưởng gồm có C,E,G.

Hình thành hợp âm A trưởng. Hợp âm A gồm các nốt ở 1,3,5 là A,C,E. Ta thấy khoảng cách giữa C và A là 1 cung và 1/2 cung (A-B,B-C). Để hình thành hợp âm A trưởng, ta phải thăng nốt C lên để được khoảng cách 2 cung (A,C#,E). Do đó A trưởng gồm: A,C#,E

Hợp âm thứ: khi quãng 3 có 1 cung và 1/2 cung (quãng 3 là quãng 3 thứ)
VD: hình thành hợp âm Em. Hợp âm E gồm các nốt ở 1,3,5 là: E,G,B. Ta thầy khoảng cách giữa G và E là 1 cung và 1/2 cung. Vậy Em gồm: E,G,B.

hình thành hợp âm Gm. Hợp âm G gồm các nốt ở 1,3,5 là: G,B,D. Ta thấy khoảng cách giữa B và G là 2 cung. Để hình thành G thứ, ta phải giảm B xuống 1/2 cung để khoảng cách giữa Bb và G là 1 cung và 1/2 cung (G-A, A-Bb).

Tính chất quãng 5
Quãng 5 đúng có 3 cung và 1/2 cung.
Ví dụ hợp âm C trưởng đúng. Hợp âm C gồm các nốt: C,E,G. Ta thấy khoảng cách giữa G và C là 3 cung và 1/2 cung (D-E,D-E,F-G và E-F). Nên hợp âm C trưởng đúng gồm các nốt C,E,G.
hình thành hợp âm Am đúng: Hợp âm Am gồm các nốt: A,C,E. Ta thấy khoảng cách giữa E và A là 3 cung và 1/2 cung nên hợp âm Am đúng gồm các nốt A,C,E.
Quãng 5 tăng (sus): có 4 cung.
Ví dụ: hình thành hợp âm Gsus hay G+5. Hợp âm G gồm các nốt: G,B,D. Ta thấy khoảng cách giữa D và G là cung và 1/2 cung nên phải tăng D lên nửa cung để khoảng cách giữa D và G là 4 cung. Vậy hợp âm Gsus gồm các nốt: G,B,D#.
(Lưu ý, hợp âm sus thường gặp ở trưởng. Tức là ta sẽ thường gặp: Gsus, Asus… chứ rất hiếm gặp Gmsus, Amsus…)
Quãng 5 giảm (dim): có 3 cung.
Ví dụ,hợp âm Bmdim (Bm-5) gồm các nốt: B,D,F.
Quãng 7
Quãng 7 tăng có 5 cung và 1/2 cung
Ví dụ: hơp âm G+7 gồm các nốt: G,B,D,F#
Quãng 7 giảm có 5 cung
Ví dụ hợp âm G-7 hay G7 gồm các nốt: G,B,D,F.

3. Hình thành hợp âm trong từng gam
Trên kia ta đã tìm hiểu về gam và hợp âm. Giờ ta sẽ kết hợp để tìm hợp âm trong các gam.
Ví dụ: gam Am. Các bậc trong Gam này như sau:
I II III IV V VI VII VIII
A B C D E F G A

Hợp âm ở bậc I là hợp âm A (có nốt A bắt đầu). Ta thấy hợp âm A trong gam Am gồm các nốt A,C,E (bậc 1,3,5 đối với A). Khoảng cách giữa C và A là 1 cung và 1/2 cung, khoảng cách giữa E và A là 3 cung và 1/2 cung nên hợp âm A sẽ là hợp âm Am.

Hợp âm ở bậc II là hợp âm B (có nốt B bắt đầu). Ta thấy hợp âm B trong gam Am gồm các nốt B, D, F (bậc 1,3,5 đối với B). Ta thấy khoảng cách giữa D và B là 1 cung và 1/2 cung, khoảng cách giữa F và B là 3 cung nên hợp âm B sẽ là hợp âm Bmdim.
Hợp âm ở bậc III là hợp âm C. Ta thấy hợp âm C trong gam Am gồm các nốt C,E,G. Đây là hợp âm C trưởng.
Hợp âm ở bậc IV là hợp âm D. Ta thấy hợp âm D trong gam Am gồm các nốt: D,F,A Đầy là hợp âm Dm.
Hợp âm ở bậc V là hợp âm E. Ta thấy hợp âm E trong gam Am gồm các nốt: E,G,B. Đây là hợp âm Em.
Hợp âm ở bậc VI là F. F trong gam Am gồm các nốt: F,A,C. Đây là hợp âm F trưởng.
Hợp âm ở bậc VII là G. G trong gam Am gồm các nốt: G,B,D. Đây là hợp âm G trưởng.

Tuy nhiên, để tạo mục đích nghệ thuật, hợp âm ở bậc 5 thường dùng hợp âm 7 của âm giai thứ hòa âm (mình sẽ nói sau). Nên nó sẽ là hợp âm trưởng 7. Tức là hợp âm E7.

Tương tự, gam Em. Gam này gồm các nốt:
I II III IV V VI VII VIII
E F# G A B C D E

Hợp âm ở bậc I gồm các nốt: E,G,B. Đây là Em
Hợp âm ở bậc II gồm các nốt: F#,A,C. Đây là hợp âm F#mdim
Hợp âm ở bậc III gồm các nốt: G,B,D. Đây là G trưởng.
Hợp âm bậc IV là: Am (A,C,E)
Bậc V là B7 (lý giải tương tự ở trên)
Bậc VI là C (C,E,G)
Bậc VII là: D (D,F#,A)

Tổng hợp lại, hợp âm của gam thứ có tính chất như sau:
bậc I,IV, là thứ
bậc V là 7
bậc II là thứ dim
bậc III,VI,VII là trưởng.

Làm tương tự với hợp âm trưởng, ta có:
bậc I, IV: là trưởng
bậc V là 7
bậc VII là thứ dim
bậc II,III,VI là thứ

”Tuy nhiên, để tạo mục đích nghệ thuật, hợp âm ở bậc 5 thường dùng hợp âm 7 của âm giai thứ hòa âm (mình sẽ nói sau). Nên nó sẽ là hợp âm trưởng 7. Tức là hợp âm E7.”

với cả nếu mình không nhầm thì E7 không phải là hợp âm trưởng 7 đâu,hợp âm Mi trưởng 7 kí hiệu là Emaj7 thì fải,có nốt D# chứ không fải là D.
Theo cách hiểu của mình, đối vs các hợp âm hình thành từ việc chồng lần lượt từng quãng 3 lên thì:
Trưởng + thứ = hợp âm trưởng
Trưởng + thứ + trưởng = hợp âm 7 trưởng
Trưởng + thứ +thứ = hợp âm 7

Thứ + trưởng = hợp âm thứ
Thứ + Trưởng + thứ =hợp âm 7 thứ

Trưởng + trưởng = hợp âm tăng
thứ + thứ = hợp âm giảm

Hợp âm E7 và Emaj7 về bản chất đều là hợp âm trưởng hết đó bạn. Vì tính chất trưởng, thứ được quy định bởi quãng 3. Các hợp âm này đều có quãng 3 trưởng cả (E – G#). Hợp âm Emaj7 chính là hợp âm E7+ hay E7 tăng đó (vì khoảng cách D# tới E là 5 cung và 1/2 cung).

Còn âm giai hòa âm là các loại âm giai do người ta đặt ra để làm tăng tính nghệ thuật cho âm nhạc, có nhiều loại hòa âm lắm, nhưng mà 2 loại chính sau đây là phổ biến nhất.

Âm giai trưởng hòa âm: nó tương tự âm giai trưởng tự nhiên, nhưng nốt ở bậc Vi bị giảm đi 1/2 cung.
Ví dụ âm giai đô trưởng nốt ở bậc Vi là nốt A thì trong âm giai hòa âm là Ab.

Âm giai thứ hòa âm: nó tương tự như âm gia thứ tự nhiên, nhưng nốt ở bậc Vii được nâng lên 1/2 cung.
Ví dụ âm giai la thứ có nốt ở bậc Vii là G thì trong âm giai hòa âm là G#.

Hợp âm ghita "Chắc ai đó sẽ về"

(Hợp âm đơn giản) 
Hợp âm ghita "Chắc ai đó sẽ về"
Hợp âm ghita "Chắc ai đó sẽ về"
 Intro: 
E----------3---------3--|--------3--------3---|--------3---------3---|---------3-------3---
B--1---1-----1---1-----|--1---1----1---1----|--1---1-----1---1----|--1---1---1----1---
G----0---------0--------|----4--------4-------|----2---------2-------|----0-------0--0---
D------------------------|----------------------|-----------------------|-------------------
A------------------------|----------------------|-----------------------|-------------------
E------------------------|----------------------|-----------------------|-------------------
Bass 4 3 21 3 Bass 
x lxl x lxl 
[C] Anh tìm nỗi nhớ, [G] anh tìm quá khứ 
[Am7] Nhớ lắm kí ức anh và [Em] em 
Trả lại [F] anh yêu thương [G] ấy 
Xin người [Em] hãy về nơi [Am7] đây 
Bàn tay [F] yếu ớt cố níu em ở [G] lại. 

[C] Những giọt nước mắt [G] lăn dài trên mi 
[Am7] Cứ thế anh biết phải làm [Em] sao 
Tình yêu [F] trong em đã [G] mất 
Phai dần [Em] đi theo gió [Am7] bay 
Còn lại [F] chi nơi đây cô đơn riêng [G] anh. 

[C] Em đi xa quá, em [G] đi xa anh quá 
Có biết [Am7] không nơi đây anh vẫn đứng [Em] đợi một giấc mơ 
Anh chờ [F] đợi một cơn [G] mưa, sẽ xoá [Em] sạch giọt nước [Am7] mắt 
Ngồi trong [F] đêm bơ vơ anh thấy đau [G] em có biết không? 

[C] Em ơi anh nhớ, em [G] ơi anh rất nhớ 
Từng câu [Am7] nói ánh mắt của em giờ [Em] này ở nơi đâu 
Chắc ai [F] đó sẽ sớm quay lại [G] thôi 
Chắc ai [Em] đó sẽ sớm quay về [Am7] thôi 
Cầm bông [F] hoa trên tay nước mắt [G] rơi 
Anh nhớ [C] em... 

[F] Anh sẽ mãi nhớ thật [Em] nhiều những thứ thuộc về [Am7] em 
Trong tim [F] này vẫn mãi yêu người, riêng [G] em. 

[C] Em đi xa quá, em [G] đi xa anh quá 
Có biết [Am7] không nơi đây anh vẫn đứng [Em] đợi một giấc mơ 
Anh chờ [F] đợi một cơn [G] mưa, sẽ xoá [Em] sạch giọt nước [Am7] mắt 
Ngồi trong [F] đêm bơ vơ anh thấy đau [G] em có biết không? 

[C] Em ơi anh nhớ, em [G] ơi anh rất nhớ 
Từng câu [Am7] nói ánh mắt của em giờ [Em] này ở nơi đâu 
Chắc ai [F] đó sẽ sớm quay lại [G] thôi Chắc ai [Em] đó sẽ sớm quay về [Am7] thôi 
Cầm bông [F] hoa trên tay nước mắt [G] rơi Anh nhớ [C] em... 

Hợp âm ghita I Love You More Than I Can Say

wow wow yeah [C] yeah
i love you more than i can [Am] say
i love you twice as much [Em] tomorrow
[Dm]wow - [Gm] love you more than i can [C] say

wow wow yeah [C] yeah
i'll miss you everything [Am]  there
why must my life be filled with [Em] sorrow
[Dm] wow - [Gm] love you more than i can [C7] say

oh don't you know i need you [F] so
oh tell me please i gotta [C] know
do you [D] mean to make me [D7] cry
[Am] am i just another [G] guy...[G7]
wow wow yeah [C] yeah
i'll miss you more than i can [Am] say
why must my life be filled with [Em] sorrow
[Dm]wow -[Gm] love you more than i can [C] say
Hợp âm ghita I Love You More Than I Can Say
Hợp âm ghita I Love You More Than I Can Say

Hợp âm ghita chờ người nơi ấy

Hợp âm Chờ người nơi ấy - Uyên Linh
Ngồi (Bm) lại nhấp chén say (F#m)
Lắng trong lòng (Bm)mình những đắng cay (F#m)
Ngày (Bm) dài thấm thoắt rơi (F#m)
Muốn quên đi (G) những phận (A) bèo trôi. (Bm)
Ngọc (Bm) ngà cũng mấy phen (F#m)
Lấm trong bùn (Bm) hoài cũng thấy quen (F#m)
Ngồi (Bm) buồn ngó gót sen (F#m)
Trách sao cõi (G) đời này (A) đỏ đen. (Bm)
[ĐK:]
Chờ người nơi ấy (G)
Về đây mang theo (F#m) những dấu yêu
Chở che cho nhau (Em) những đêm (A) lạnh lùng (Bm)
Chờ người đâu thấy (G)
Người còn hoài xa (F#m) cách xa
Một mình trong đêm (Em) lắng nghe (A) gió than. (Bm)
* Vì lời ai hứa (G)
Một ngày dìu em (F#m) bước đi...
Tìm về nơi xa (Em) phút giây (A) yên bình (Bm)

Đầu non cuối gió (G)
Người còn là mây (F#m) viễn du
Để lại đằng sau (Em) tiếng ai (A) thở dài. (Bm)

Hợp âm ghita bài hát "Sầu tím thiệp hồng"

[Cm] [Eb] [Cm]
Từ lúc quen nhau chưa nói một lời gì, tỏ tình ta mến nhau
[Ab] [Eb]
Nhiều đêm ngắm sao, mơ ước duyên mình bền lâu,
[Fm]
suốt đời tình thắm sâu
[Cm]
Nhớ thương đầy vơi, mộng thấy ai mỉm cười,
Làn môi xinh tuyệt vời
[Fm] [Cm]
Để rồi buồn ơi, ánhtrăng soi còn đó,
[G7] [Cm]
và nghe hơi gió biết rằng mình vừa mơ
[Eb]
Khi yêu hồn như nở hoa xây mộng tuyệt vời,
[Ab] [Eb]
Nắm tương lai trong bàn tay một câu nói thôi
[Fm] [B] [Eb]
Đôi khi gặp nhau, muốn khơi nhưng rồi lại thôi,
[G7]
Nói ra e lệ, hồn theo gió trôi
[Cm] [Eb]
Hôm nay nhìn xe kết hoa xuôi ngược nẻo đường,
[Ab] [Eb]
Gửi thư trao cho người yêu, vài câu luyến thương
[Fm] [B] [Eb]
Hân hoan hồn như nở hoa, trông chờ hồi âm,
[G7] [Cm]
Đắng cay trong lòng chỉ thấy thiệp hồng
(Tương tự đoạn đầu):
Chiều tím không mây, đường cũ bước lần về,
buồn nghe day dứt tim
Nhìn xe kết hoa màu trắng ngỡ rằng mình mơ,
Pháo hồng vui tiễn đưa
Lá thu chậm rơi từng lá nghe buồn buồn tưởng bước ai tìm về.
Mở rộng vòng tayđón em nhưng nào thấy,
Sầu dâng lên tim biết bao giờ cho khuây?

Hợp âm ghita bài hát "Tôi di tìm tôi" - Ưng Hoang Phúc

----------Am -------------------Em
Có những tối , nghe mưa rơi thật buồn ,
--------F------------------------C
Quạnh vắng góc quán quen mình tôi ,
 -------Dm------------------------- C
Tôi đi tìm trong tôi tìm trong hơi men cay
----------F-------------------E
Một hình bóng đã mãi xa tầm tay.
 ---------Am------------------Em
Dù đã có lúc tôi cố quên cuộc tình
------F----------------------------C
Chìm đắm trong những môi hôn dối lừa,
-------------Dm--------C---------------Am
Nhưng nghe lòng thêm đau vì con tim thơ ngây
---------F---------------------E
Còn yêu em yêu mãi em người ơi .

DK
--------------------\Am--------------------------C
Đã bao nhiêu đêm về đơn côi tìm em trên con phố xưa,
----------------G7---------------------------------C
Dường như còn đây những đêm ngày xưa chung lối yêu,
----------------F--------------------E
Dường như còn đây bao môi hôn nồng ấm ,
Một thời tình mình đã trao về nhau .
-----------------Am--------------------------C
Chốn xa xôi nơi nào bên ai người yêu em ơi có hay?
----------------G7----------------------------C
Từng đêm lòng tôi vẫn luôn hoài mong trong xót xa,
---------------F------------------Am
Mặc cho màn đêm ôm đôi vai lạnh giá ,
Đi tìm một hình bóng quen ngày xưa .....!
------------------Dm---------------------G
Tình tôi như ngàn sóng, mãi lênh đênh khát bờ,
-------------------Am--------------------------
Tìm lại bao ngày tháng trong nhớ thương đong đầy.
--------------Dm---------------------Am
Từng đêm cô dơn tôi vẫn mong em về đây
Tình tôi luôn còn đó tháng năm không phai nhoà,
Dù cho em lạc bước nơi chốn xa bên người,
Thầm mong em yêu xin hãy quay về đây ...........

Các bước để học ghita thành công

Phương pháp học Guitar lúc bắt đầu
I.: Chuẩn bị về mặt tinh thần:
Nghe có vẻ ko liên quan gì đến bài viết, thật ra tâm lý tập luyện của các bạn ảnh hưởng lớn đến quá trình tự học.Đây là 3 nguyên nhân khiến nhiều bạn ko muốn tập luyện?
  1. Bạn cho rằng mình không có năng khiếu âm nhạc, không thể chơi guitar hay?
  2. Bạn cho rằng tự tập guitar rất khó?
  3. Bạn cho rằng tập mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến việc học, làm việc?
Xin thưa rằng có lẽ bạn đã lầm. Theo tôi nghỉ, ngăg khiếu chẳng quan trọng gì cả, điều quan trọng là bạn yêu guitar, muốn chinh phục nó. Bạn có yêu guitar không??? Nếu câu trả lời là có, tôi dám cá với các bạn rằng bạn sẽ đánh đàn chuyên nghiệp dù tự học.
Và như vậy tôi cũng dám cá rằng ban đầu bạn sẽ cảm thấy rất khó khăn, đôi khi muốn bỏ cuộc nhưng chắc chắn rồi bạn sẽ thành công trong việc chinh phục guitar.

Và bạn cho rằng mình mất thời gian cho việc tập guitar. Có lẽ không phải thế!
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, não bộ con người chia làm não trái và phải. Cả 2 ngang nhau.

Não trái: về suy luận logic, tính toán,....
Não phải: mộng mơ, âm nhạc,...

Vậy đã rõ, học guitar giúp 2 bộ não của bạn làm việc ngang bằng nhau, cùng phối hợp làm việc, giúp bạn có khả năng làm việc nhanh, nhớ lâu,......Làm tăng hiệu quả làm việc. giúp bạn yêu đời hơn,và đăck biệt với các bạn nam thì sẽ có một kĩ năng ....hehe....

Vậy còn lý do gì nữa để ngay bây giờ bạn và người thân không cùng nhau tập luyện Guitar. Hãy mua ngay một cây guitar đi nào!

II.Học đúng phương pháp.
Thật ra có rất nhiều phương pháp, các bước để học guitar đệm hát một cách hiệu quả nhưng sau đây tôi xin đưa ra phương pháp mà tôi đã học, có thể ko phải là tối ưu nhất cho các bạn muốn và đang tự học guitar, ko có điều kiện đến trường lớp...(như tôi )

Bước 1: Mua sách, mua đàn,...
Tất nhiên rồi, bạn phải cần những thứ này. Chọn sách bạn có thể chọn mua các cuốn sách mà mình cảm thấy hay, hiểu. Mình quên mấy cái tên sách mình đọc rồi. Ai biết cuốn nào thì chỉ nhé.Mua đàn thì cần nhờ người có kinh nghiệm mua 1 cây cho tạm ổne, ko cần quá mắc tiền vì sau này tôi biết khi pro rồi các bạn rất muốn tự chọn guitar

Bước 2: Học nhạc lý cho tốt.
Không cần phải giải thích các bạn cũng hiểu chứ! học âm nhạc mà ko biết nhạc lý thì dẹp cho rồi !

Lưu ý: Nếu bạn chỉ đơn thuần tập đàn để chơi cổ điển thì không cần thiết phải học nhạc lý rất giỏi đâu nhé, chừng nào muốn đi sâu hơn thì học tiếp. Cái bạn cần học nói nôm na là nhịp là gì, phách là gì, hợp âm là gì, âm giai là gì, nốt này nốt gì, một số kí hiệu trong bản nhạc,...

Bước 3. Tập làm quen với guitar, cách cầm đàn, cách dùng pick, cách dánh,...Các cách trên cầm đàn các bạn có thể tham khảo trên internet, và cuốn sách các bạn đã mua. Ghi nhớ phải chuẩn nhé! Càng chuẩn sau này càng dễ học. Nhất là học cáh tạo một tiếng đàn hay, cần nhờ mọi người giúp đỡ

Bước 4. Tập chạy ngón tay, làm cho các ngón tay quen với cái cây đàn.
Bạn cần biết các nốt của guitar và chạy nốt từ do re mi fa sol... cho thật nhuyễn. Học theo kiểu này đầu giúp các bạn hiểu về guitar hơn và cho tay bạn quen với loại nhạc cụ mới.Sau đó bạn có thể học chạy các âm giai nếu thích, trong diễn đàn mình phần thư viện có bài tập âm giai của Segovia ấy nhé.

Tập cái này có thể khi đệm sẽ chẳng áp dụng gì nhưng sẽ giúp bạn làm quen với cây đàn nhanh nhất, và khi chuyển qua bước kế tiếp học sẽ nhanh, gọn, khỏe

Bạn tập thế đến khi nào tay nhuyễn hơn, cảm thấy an tâm thì sang bươc tiếp theo nhé ( khoảng 1 tháng)

Bước 5: Tập hợp âm.Bạn cần tập những hợp âm dễ trước. Các hợp âm thông dụng nên ưu tiên hơn.
Một khi B4 bạn thực hiện tốt, việc học B5 sẽ dễ hơn, nhanh hơn.

Sau khi xem xong bạn tự nghĩ trong đầu và chuyển từ C--> D--> E,...... hoặc nhờ ngươfi khác đọc ngẫu nhiên cho mình chuyển.

Sau khi tập xong các hợp âm trong 1 cung, bạn có thể tìm các bản nhạc ghi hợp âm thực hành. Ko cần quan tâm đến tay phải, chỉ cần rải nhẹ là đủ vì mục đích của bạn là nhớ hợp âm, chuyển nhanh.

Bước 6: Tập chơi tay phải : điệu nhạcCái này ban đâu tôi nghĩ ko nên xem trong sách, phức tạp lắm, cứ xem trên mạng internet hoặc nhờ người biết chỉ. Ai cần hướng dẫn tôi sẵn sàng chỉ bảo từ A-->Z

Khi tập điệu nhạc nào đó, bạn nên tập cho nhớ, quen tay rồi tìm bài hát đánh điệu đó ráp vào.
Mới tập xong 1 điệu ráp vào ko dễ đâu,,,,,!!!!
Bạn cần tập chậm rồi nhanh dần. GHi nhớ: Phách mạnh: bass hoặc dập mạnh,phách nhẹ: rải,....

Một số điệu thông dụng:
Slow
Slowrock
Blue
Vasle
Valse lente
chachacha
bolero
ballad

Khi đạt đến trình độ nào đó rồi thì bạn sẽ thoải mái diễn tả nhạc theo ý thích, chả cần quan tâm nó là điệu gì. Hãy tập ngẫu hứng trên cây đàn, đánh theo ý thích cho nó quen dần.

Bước 7: Ghép 2 tay lại với nhau.Cái này mới khó nhé, bạn phải tập thật kĩ 2 bước trên thì việc "ghép 2 tay" lại mới dễ dàng  và phải chú ý nghe nhạc đánh với Guitar nhiều chút nhé.

Bước 8. Tìm hiểu cách đánh khúc dạo đầu intro, dạo giữa. ( có thể tập theo Guitarpro)

Bước 9: Tập tự tìm hợp âm
Thật ra sau một thời gian dài tập chơi theo bản nhạc ghi sẵn ( ko nên tập theo Gp) bạn đã có một chút khả năg tự tìm hợp âm, hay nói cách khác là cảm âm bạn bắt đầu tốt dần. Ban đầu có thể là C,Am,.... nhưng bạn nên tự tìm nhiều để nâng cao lên.

Bước 10: Bạn có muốn đánh như mấy nghệ sĩ trong phòng trà không hay là chỉ muốn chơi theo kiểu cơ bản như trên, nếu muốn đánh thật Pro và phiêu như các nghệ sĩ phòng trà, hãy tập Guitar cổ điển và học Hòa Âm nhé...!!

Nhạc lý ghita cơ bản

LỜI NÓI ĐẦU
Trong khi đọc xướng âm, học viên được hướng dẫn học từ cái dễ đến cái khó, từ cái đơn giản đến cái phức tạp. Lý thuyết âm nhạc cũng được đưa vào tuần tự, mỗi lần một ít, tuỳ theo đòi hỏi của bài xướng âm cũng như tuỳ theo thời giờ cho phép.
Khi hướng dẫn học phần lý thuyết song song với xướng âm, không nên học hết mọi điểm như được ghi theo thứ tự trong sách này. Nhưng điểm nào dễ hiểu, cần thiết, chúng ta học trước, những gì khó hiểu, phức tạp, chúng ta sẽ trở lại sau.

CHƯƠNG MỞ ĐẦU
KHÁI NIỆM TỔNG QUÁT
1. Muốn hiểu ngôn ngữ viết, tối thiểu ta phải biết đánh vần, đọc chữ. Tương tự như vậy, muốn xem và hiểu một bản nhạc, ta cũng phải hiểu được các ký hiệu âm nhạc, và biết xướng âm. Có thể nói Nhạc pháp (gồm nhạc lý và xướng âm) là cửa ngõ dẫn vào âm nhạc.
2. Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật dùng âm thanh để diễn đạt tình ý của con người. Nó được chia ra hai loại chính, đó là thanh nhạc và khí nhạc. Thanh nhạc là âm nhạc dựa trên lời ca, nên ý tưởng và tình cảm cụ thể và rõ ràng. Còn khí nhạc là âm nhạc dựa trên âm thanh thuần tuý của các nhạc cụ, nên trừu tượng, nó gợi ý, gây cảm giác hơn là nói lên một tình cảm nào rõ rệt. Cần phải học hỏi nhiều hơn mới lĩnh hội được.
3. Nghệ thuật là kết quả của hoạt động của con người biết dùng các phương tiện khả giác một cách khéo léo, tài tình, để thông đạt tình ý của mình. Trong âm nhạc, các phương tiện đó làâm thanh. Do đó, âm nhạc chủ yếu làm cho tai nghe. Muốn thưởng thức âm nhạc, phải nghe thực thụ chứ xem bằng mắt thì chưa đủ.
4. Âm thanh dùng trong âm nhạc thường có bốn đặc tính này :
4.1. Cao thấp (cao độ)
4.2. Ngắn dài (trường độ)
4.3. Mạnh nhẹ (cường độ)
4.4. Đục trong, sáng tối … (âm sắc).
Thiếu một trong các đặc tính trên thì chỉ là tiếng động. Hiện nay người ta dùng nhiều tiếng động khác nhau trong âm nhạc, nhằm tăng cường mức độ diễn cảm cũng như tính tiết tấu của âm nhạc. Đó là các nhạc cụ thuộc bộ gõ như trống con, trống cái, phách, maracas, triangle, cymbal …
5. Ký hiệu âm nhạc là toàn bộ các dấu hiệu cũng như chữ viết được dùng để ghi lại âm thanh với các đặc tính của chúng. Môn ký âm là ghi âm thanh lại bằng các ký hiệu âm nhạc trên giấy mực.

CHƯƠNG I
KÝ HIỆU ÂM NHẠC LIÊN QUAN ĐẾN CAO ĐỘ 
1. Tên các dấu nhạc có cao độ khác nhau mà người ta thường dùng là : DO, RE, MI, FA, SOL, LA, SI gốc tiếng La-tinh, đọc theo tiếng Việt là ĐÔ, RÊ, MÍ, FA, XON, LA, XI. Đó là 7 bậc cơ bản của hệ thống thất âm, tính từ thấp lên cao. Muốn lên cao hoặc xuống thấp hơn, người ta lặp lại tên dấu các bậc trên với cao độ cách nhau từng quãng 8 một (còn gọi là bát độ).
2. Người ta cũng còn dùng các chữ cái La-tinh để gọi tên các bậc cơ bản trên : đô : C, rê : D, mi : E, fa : F, xon : G, la : A, xi : B (hiện nay B chỉ Xi giáng, còn H chỉ Xi thường). 
3. Ở một số nước như Trung Hoa, Nhật Bản … người ta còn dùng số thay cho tên gọi bằng chữ. Thí dụ : 1 : đô, 2 : rê, 3 : mi … (1 chỉ dấu bậc I, 2 chỉ dấu bậc II, 3 chỉ dấu bậc III …, 7 chỉ dấu bậc VII, muốn lên cao một bát độ, ta thêm dấu chấm trên con số, muốn xuống thấp một bát độ, ta thêm dấu chấm dưới con số 1, 1 …). Số có 1 gạch là dấu móc, dấu có một gạch ngang là dấu trắng. Dấu không có gì là dấu đen…
Nhạc lý ghita cơ bản
Nhạc lý ghita cơ bản
Thang thất âm Đô luôn được trình bày dưới dạng 7 âm cơ bản đi liền nhau cộng thêm với âm đầu của thang âm được lặp lại ở bát độ : Đô Rê Mi Fa Xon La Xi (Đô).
4. Khoảng cách về cao độ tương đối giữa các bậc không đồng đều nhau.
· Khoảng cách nhỏ nhất trong thất âm gọi là nửa cung, giữa Mi với Fa và Xi với Đô.
· Khoảng cách lớn nhất giữa hai bậc cơ bản đi liền nhau gọi là nguyên cung : giữa Đô với Rê, Rê với Mi, Fa với Xon, Xon với La, và La với Xi.
Ta có sơ đồ :
Đô–Rê–Mi-Fa–Xon–La–Xi-Đô (mỗi gạch ngang chỉ nữa cung, nguyên cung gồm 2 nửa cung).
Như vậy khoảng cách âm thanh giữa Đô thấp và Đô cao kế tiếp gồm 12 nửa cung, hoặc 6 nguyên cung. Nói cách khác, quãng tám (Đồ – Đố) gồm 12 âm cách nhau đều đặn từng nửa cung một (ở đây chỉ mới nói đến hệ âm điều hoà do nhạc sĩ Jean-Sebastien Bach (1685-1750)và Jean Philippe Rameau (1683-1764) cổ võ và được chấp nhận rộng rãi cho đến nay). 
5. Dấu hoá : là những ký hiệu cho biết các bậc cơ bản được tăng lên hay giảm xuống từng nửa cung điều hoà.
5.1. – Dấu thăng : (#) làm tăng lên nửa cung.
- Thăng kép : (x) làm tăng lên 2 nửa cung.
5.2. – Dấu giáng : (b) làm giảm xuống nửa cung.
- Giáng kép : (bb) làm giảm 2 nửa cung.
5.3. – Dấu bình : ( n ) cho trở về cao độ tự nhiên,
không còn bị ảnh hưởng của các dấu hoá cấu thành cũng như dấu hoá bất thường.
Ở một số nước như Đức, Nga … khi dùng chữ cái La-tinh A, B, C … người ta thêm vần is thay dấu thăng : Cis : Đô# ; Eis : Mi# ; Ais : La# ; Cisis : Đôx … và thêm vần es thay dấu giáng : Ces : Đôb ; Ceses : Đôbb ; Des : Rêb ; Ees —> Es : Mib ; Aes —> As : Lab.
6. Nhờ các dấu hoá đặt trước các dấu nhạc trên khuông nhạc, các bậc cơ bản được nâng cao hoặc hạ thấp tạo thành các “bậc chuyển hoá” : Đồ – Đô# (Rêb) – Rê – Rê# (Mib) – Mi – Fa – Fa# (Xonb) – Xon – Xon# (Lab) – La – La# (Xib) – Xi – Đô (các dấu hoá này được gọi là các dấu hoá bất thường. Chỉ ảnh hưởng đến các dấu nhạc cùng tên trong cùng một ô nhịp, khác với các dấu hoá cấu thành ghi ở đầu khuông nhạc, còn gọi là hoá biểu, ảnh hưởng đến mọi dấu nhạc cùng tên trong cùng một đoạn nhạc).
- Nửa cung dị chuyển : (diatonic đọc là đi-a-tô-ních) là nửa cung tạo nên bởi 2 bậc khác tên kề nhau.
- Nửa cung đồng chuyển : (chromatic đọc là crô-ma-tích) là nửa cung tạo nên bởi 2 bậc cùng tên.

- Nguyên cung dị chuyển : được tạo nên bởi 2 bậc khác tên kề nhau.
- Nguyên cung đồng chuyển : được tạo nên bởi 2 bậc cùng tên như Fa – Fa x, Xon – Xon bb hoặc 2 bậc khác tên không kề nhau : Đô# – Mib, Xon# – Xib. Trên thực tế đây là quãng ba giảm.
TD 5 
a) 2 bậc cùng tên b) 2 bậc khác tên không kề nhau (= quãng 3 giảm)
7. Muốn ghi cao độ tuyệt đối của các âm thanh, người ta dùng đến khuông nhạc và khoá nhạc.
7.1. Khuông nhạc : Hiện nay người ta dùng 5 đường kẻ song song, tạo thành 4 khe song song, tính thứ tự từ dưới lên. Trên khuông nhạc đó, ta có 11 vị trí khác nhau, ghi được 11 bậc cơ bản. Muốn ghi thêm, người ta dùng các dòng kẻ phụ :
7.2. Khoá nhạc : dùng để xác định tên các dấu nhạc ghi trên khuông nhạc. Khoá nhạc được ghi ở đầu mỗi khuông nhạc.
Hiện nay thường dùng 3 loại khoá chính sau :
a) Khoá Xon dòng 2 :
- Dành cho bè nữ và các đàn âm khu cao như violon, Flute, Oboe …
- Dành cho các bè nam cao và trầm : gồm khoá Xon Ricordi và khóa Xon hạ quãng 8
b) Khoá Fa dòng 4 : dành cho các giọng nam và các dàn thuộc âm khu trầm như Violoncello (cello), Contrabasso, Fagotto, Trombone …
c) Khoá Đô dòng 3 : dùng cho đàn viola.
8. Âm La mẫu có tần số 440 là âm chuẩn được đa số chấp nhận : nó được ghi trên khuông nhạc khoá Xon 2, nằm ở khe thứ 2. Người ta gọi đó là âm La 3, vì nó nằm trong bát độ thứ 3 của 4 bát độ hợp ca của giọng người.
Với hai khoá Xon và Fa, chúng ta có thể xác định chính xác độ cao tuyệt đối của các âm thanh thuộc âm vực giọng hát hợp ca trải dài trong 4 bát độ. Có những nhạc khí có thể phát ra âm thanh trầm hơn quá 1 bát độ (La – Xi – Đồ – Rê … Đô1) hoặc cao hơn 2 bát độ (Đô5 – Rê – Mi … Đô6). Để khỏi dùng đến quá nhiều dòng kẻ phụ, ta dùng dấu chuyển độ :
- Dấu chuyển độ lên : Phải tấu âm thanh lên cao hơn 1 bát độ : Ghi số 8 ở trên dòng nhạc, ngay chỗ bắt đầu phải chuyển độ, và thêm những vạch ngang rời song song với khuông nhạc cho đến khi diễn tấu bình thường như cao độ ghi trên khuông nhạc (có khi người ta viết chữ Octava đúng hơn Ottava Alta (8va Alta) ….. loco, loco báo hiệu trở lại bình thương (TD 6a).
- Dấu chuyển độ xuống : Phải tấu âm thanh thấp hơn 1 bát độ : Ghi số 8 dưới khuông nhạc với các vạch ngang rời cho đến khi không phải chuyển độ nữa (có khi thay bằng chữ Ottava bassa (8va bassa) ….. loco (TD 6b)).
TD 6 : Dấu chuyển độ
a) chuyển độ lên Ottava ….. loco b) chuyển độ xuống Ottava bassa ….. loco
TIỂU ĐỀ ÔN TẬP
Chương mở đầu : Khái niệm tổng quát
Chương I : Ký hiệu âm nhạc liên quan đến cao độ
1. Cho biết khái niệm về âm nhạc.
2. Nghệ thuật là gì ? Phương tiện truyền đạt của âm nhạc là gì ?
3. Các đặc tính của âm nhạc ?
4. Tiếng động khác với âm thanh ở chỗ nào ? Có được dùng trong âm nhạc nhiều không ?
5. Người ta dùng phương tiện nào để gọi tên các dấu nhạc có âm thanh cao thấp khác nhau ?
6. Thông thường khoảng cách về cao độ tương đối giữa hai dấu nhạc kề nhau có giống nhau không ? Có mấy loại khoảng cách ?
7. Dấu hoá là gì ? Có mấy loại ? Dấu hoá cấu thành và dấu hoá bất thường khác nhau thế nào ?
8. Cis, Cisis, Ces, Es, As, Ceses nghĩa là gì ?
9. Phân biệt các bậc cơ bản và bậc chuyển hoá ?
10. Nửa cung dị chuyển và đồng chuyển là gì ?
11. Nguyên cung dị chuyển và nguyên cung đồng chuyển là gì ?
12. Khuông nhạc là gì ? Công dụng của khuông nhạc và khoá nhạc ?
13. Có mấy loại khoá nhạc thường dùng hiện nay ?
14. Tại sao gọi âm La mẫu là La 3 ?
15. Chuyển độ là gì ? Ký hiệu ra sao ?
Người ta dùng các chữ cái La-tinh để gọi tên các dấu nhạc từ rất lâu, trước khi tu sĩ Guido d’Arrezzo (990-1050) một giáo sự âm nhạc, vào khoảng năm 1025, đã đặt ra các chữ đô-rê-mi-fa-xon-la-xi dựa trên một bản nhạc Bình ca trong bài Thánh thi kính thánh Gio-an Tẩy Giả sau đây :
Chữ UT=C, RE = D, MI = E, FA = F, SOL = G, LA = A
Còn SI = B/H là do âm đầu của 2 chữ Sancte Joannes ghép lại.
Chữ UT khó nghe, khó đọc, nên sau được thay bằng chữ DO (có lẽ do chữ DOMINUS, nghĩa là ông chủ, Đức Chúa …), do ông Bononcini dùng lần đầu tiên trong cuốn Musico Prattico (1673).
Bát độ gồm 310,01 savart, nửa cung có 25,086 savart, nguyên cung : 50,172 savart. Bát độ còn được chia thành 12 prony, nửa cung có 1 prony. Ông Holder chia bát độ thành 53 comma, nguyên cung 9 comma, nửa cung dị chuyển (diatonic) của ông chỉ có 4 comma, nửa cung đồng chuyển (chromatic) có 5 comma : Hiện nay người ta không theo lối chia của ông nữa.

CHƯƠNG II
KÝ HIỆU ÂM NHẠC LIÊN QUAN ĐẾN TRƯỜNG ĐỘ
A. trưỜng đỘ tương đỐi : 
1. Để ghi trường độ tương đối giữa các âm thanh, người ta dùng các dấu nhạc với 7 hình dạng khác nhau.
- Dấu tròn ( w )lâu bằng 2 dấu trắng ( h )
- Dấu trắng ( h ) lâu bằng 2 dấu đen( q )
- Dấu đen ( q ) lâu bằng 2 dấu móc đơn ( e )
- Dấu móc đơn ( e ) lâu bằng 2 dấu móc đôi ( x )
- Dấu móc đôi ( x ) lâu bằng 2 dấu móc ba ( r )
- Dấu móc ba ( r ) lâu bằng 2 dấu móc tư (  )
Như vậy một dấu tròn : 2 trắng : 4 đen : 8 móc đơn : 16 móc đôi : 32 móc ba : 64 móc tư.
2. Dấu lặng : là những ký hiệu cho biết phải ngưng, không diễn tấu âm thanh trong một thời gian nào đó. Các dấu lặng trong thời gian tương ứng với dạng dấu nhạc nào, thì cũng có tên gọi tương tự.
3. Dấu chấm : là ký hiệu đi sau dấu nhạc, hoặc dấu lặng, có giá trị bằng nửa trường độ ký hiệu đi trước nó.
Thí dụ :
q . = q + e

h . . = h + q + e
4. Dấu nối : là đường vòng cung nối liền nhiều dấu nhạc với nhau. Có 2 loại :
4.1. Dấu nối 2 dấu nhạc cùng cao độ làm kéo dài trường độ dấu nhạc đầu, bằng tổng số trường độ của cả hai dấu nhạc.
h + h = w
4.2. Dấu nối nhiều dấu nhạc khác cao độ (còn gọi là dấu luyến) cho biết phải diễn tấu các dấu nhạc đó liền tiếng với nhau.
5. Dấu lưu (Dấu miễn nhịp) : là nửa vòng cung nhỏ có một chấm ở giữa U đặt trên hoặc dưới ký diệu âm nhạc nào thì cho nó được kéo dài bao lâu tuỳ ý.
6. Ô nhịp : là phần khuông nhạc được giới hạn bởi 2 vạch nhịp.
Trong nhạc mới, thường người ta chia bài nhạc thành nhiều ô nhịp. Các ô nhịp có tổng số các ký hiệu bằng nhau. Muốn biết mỗi ô nhịp có trường độ bao nhiêu ta căn cứ vào số loại nhịp (số tiết nhịp) viết ở đầu bài nhạc, gọi tắt là số nhịp.
7. Số nhịp : là một phân số cho ta biết phải chia dấu tròn ra làm mấy phần, và tử số cho ta biết trong mỗi ô nhịp có mấy phần như vậy. Thí dụ 2/4 : dấu tròn chia làm 4 phần, mỗi phần bằng một dấu đen và trong mỗi ô nhịp ta có 2 dấu đen hoặc các ký hiệu tương đương hai dấu đen (xem thí dụ 9).
8. Phách : là đơn vị thời gian trong âm nhạc, giống như bước chân người đi trong không gian. Nhờ phách mà ta cảm nhận được sự chuyển động của âm thanh trong thời gian.
8.1. Phách chia 2 : là loại phách có thể chia ra 2 phần đều nhau.
Thí dụ : Trong loại nhịp 2/4, mỗi ô nhịp có hai phách, mỗi phách là 1 dấu đen. Dấu đen này có thể chia thành hai dấu móc đơn :
q = e e
Loại nhịp gồm phách chia 2 gọi là loại nhịp chia 2 (nhị phân) hoặc nhịp đơn.
8.2. Phách chia 3 : Là loại phách có thể chia ra 3 phần đều nhau.
Thí dụ : Trong loại nhịp 6/8 gồm hai phách, mỗi phách là 1 dấu đen chấm. Phách này có thể chia thành 3 dấu móc đơn :
q . = e e e
Loại nhịp gồm phách chia 3 gọi là loại nhịp chia 3 (tam phân) hoặc loại nhịp kép.
9. Các nhóm dấu bất thường :
9.1. Liên ba : Là 3 dấu nhạc có trường độ bằng nhau, nhưng khi diễn tấu thì trường độ của chúng bằng trường độ 2 dấu nhạc cùng hình dạng.
9.2. Liên năm, liên sáu, liên bảy : Là diễn tấu 5, 6 hoặc 7 dấu thay vì chỉ phải diễn tấu 4 dấu cùng hình dạng.
9.3. Liên hai : là 2 dấu nhạc có trường độ bằng nhau nhưng được diễn tấu trong thời gian bằng 3 dấu cùng hình dạng.
Nói cách khác là dấu nhạc có chấm (loại phách chia 3) thay vì được chia 3 như thường lệ thì chỉ được chia 2 thôi.
9.4. Liên tư : Là diễn tấu 4 dấu thay vì cần diễn 6 dấu cùng hình dạng.
10. Các ký hiệu dùng để lặp lại :
10.1. Lặp lại một âm hình giai điệu nào đó trong cùng một ô nhịp, thay vì viết ra cả thì chỉ cần viết 1 lần rồi ghi các vạch xiên chỉ trường độ.
10.2. Một âm thanh hoặc một hợp âm cần nhắc lại thì ghi tổng số trường độ và thêm các gạch chỉ trường độ phải lặp lại :
10.3. Lặp lại luân phiên nhiều lần âm thanh hoặc hợp âm (trémolo)
10.4. Lặp lại nguyên 1 hoặc 2 ô nhịp :
10.5. Lặp lại một đoạn nhạc : dùng dấu hồi đoạn ] } (Td 18a)
10.6. Lặp lại một đoạn dài, hoặc cả bài : Dùng dấu hồi tống @ (Td 18b)
Khi phần cuối đoạn lặp lại có khác biệt với phần cuối đoạn đầu thì người ta ghi dấu ngoặc vuông với số 1 hoặc chữ a trên phần khác biệt của đoạn đầu, và ghi dấu ngoặc vuông với số 2 hoặc chư b trên phần cuối của đoạn lặp lại.
Lần đầu diễn theo số một (còn gọi là volta 1) cho đến dấu hồi tống thì lặp lại lần 2, bỏ volta 1, nhảy qua volta 2.
Người ta có thể thay dấu hồi tống bằng chữ DC (Da Capo nghĩa là trở lại từ đầu. Da Capo al fine = Trở lại từ đầu cho đến chỗ TẬN của bài).
Bài nhạc nào có đoạn kết riêng, gọi là CODA thì người ta ghi dấu A hoặc để báo hiệu chỗ phải sang đoạn kết. Dấu báo kết A … được ghi 2 lần, lần đầu thường kèm theo chữ Al Coda (sang đoạn kết), lần hai ghi ngay đầu đoạn kết với chữ CODA. (Td 19c)
B. trưỜng đỘ TUYỆT ÐỐI:
Muốn biết một âm thanh phải kéo dài bao nhiêu giây, người ta phải dùng tới những ký hiệu khác để diễn tả tốc độ của các âm thanh, còn gọi là nhịp độ của âm thanh (Tempo).
Ký hiệu ghi nhịp độ đều đặn : các chữ ghi nhịp độ thường cho ta 3 mức độ chính, đó là vừa, chậm và nhanh. Muốn chính xác hơn, người ta ghi thêm số phách hoặc số dấu nhạc phải diễn tấu trong một phút gọi tắt là số nhịp đoä. 
1.1 CHỮ VIẾT Ý NGHĨA SỐ NHỊP ĐỘ
Nhịp độ chậm Largo Chậm rãi 40-60
Larghetto Bớt chậm rãi 60-66
Lento Chậm
Adagio Chậm 66-76
Grave Trịnh trọng
Nhịp độ vừa Andante Khoan thai 76
Andatino Bớt khoan thai 108
Moderato Vừa 108-120
Allegro Moderato Nhanh vừa 120
Allegretto Chưa nhanh lắm
Nhịp độ nhanh Allegro Nhanh 120-168
Vivace Khá nhanh
Presto Hối hả, rất nhanh 168
Prestissimo Cực nhanh 208
1.2. Người ta còn thêm các chữ để nói rõ sắc thái hơn như :
Molto : Rất
Assai : Rất
Non troppo : Không quá
Non Tanto : Không đến thế
Sempre : Luôn luôn (Sempre marcato : Luôn luôn rời mạnh)
Meno : Ít hơn (Meno mosso : Kém linh hoạt hơn)
Pìu : Hơn (Pìu andante : nhanh hơn Andante)
Poco : Ít, một chút (Poco a poco : Từ từ)
Quasi : Gần như.
2. Ký hiệu ghi nhịp độ thay đổi :
2.1. Tăng nhịp độ :
Accelerando (Accel.) : Nhanh dần lên
Animando : Linh động, hào hứng
Stretto : Dồn dập, gấp rút
2.2. Giảm nhịp độ :
Ritardando (Ritard.) : Chậm lại
Rallentando (Rall.) : Chậm dần
Allargando (Allarg.) : Mở rộng ra, giãn ra.
Ritenuto (Rit.) : Giữ lại, ghìm lại
Poco lento : Hơi chậm.
2.3. Nhịp độ tư do : 
Ad libitum (ad lib.) : Nhịp độ tuỳ ý
A piacere : Tuỳ thích
Senza tempo : Không cần giữ nhịp
Rubato : Lơi nhịp
2.4. Vào nhịp độ bắt buộc :
Tempo : Vào nhịp (sau một đoạn nhạc ad lib.)
A tempo, Tempo primo : Trở về nhịp độ ban đầu
(AT), (1 Tempo)
L’istesso tempo : Giữ y nhịp độ cũ dù có thay đổi số nhịp, nghĩa là một phách ở loại nhịp trước vẫn bằng 1 phách ở loại nhịp sau.
Thí dụ 2/4 đổi qua 6/8 thì q trong 2/4 = q . trong 6/8


CHƯƠNG III
KÝ HIỆU ÂM NHẠC LIÊN QUAN ĐẾN CƯỜNG ĐỘ1. Các chữ dùng để ghi cường độ thường dùng là
Pianissimo (pp) : Rất nhẹ 
Piano (p) : Nhẹ 
Mezzo-Forte (mf) : Mạnh vừa 
Forte (f) : Mạnh 
Fortissimo (ff) : Rất mạnh 
Có khi người ta còn dùng ppp để chỉ cực nhẹ và fff để chỉ cực mạnh 

2. Các chữ hoặc ký hiệu dùng để báo hiệu thay đổi cường : 
Crescendo (Cresc.) : Mạnh dần lên 
Decrescendo (decresc.) : Nhẹ dần lại 
Diminuendo (dim.) : Bớt lại 
Morendo (mor.) : Lịm dần (thường dùng cuối đoạn, cuối bài) 
Smorzando (Smor.) : Tắt dần 
Subito forte (Sf.) : Mạnh đột ngột 
Sforzando (Sfz.) : Nhấn buông, nhấn mạnh rồi nhẹ ngay (fp) 
Marcato (>) : Mạnh mà rời
Staccato (dấu chấm trên dấu nhạc) : Nhẹ mà rời 
Sostenuto (gạch ngang trên dấu nhạc) : Cẩn trọng, nâng niu (pfp) 
Sotto voce : Hát nửa tiếng, êm nhẹ 
Dolce : Dịu dàng, nhẹ nhàng 
Ngoài ra, để chỉ phải liên kết các dấu nhạc mạnh dần hoặc nhẹ dần một cách liên tục, không rời rạc, người ta dùng chữ Legato (liền tiếng, liền giọng). 

3.Phân loại cường độ: 
Có 2 cách phân định cường độ 
3.1.Cường độ cố định: là cường độ được qui định trước theo nguyên tắc "Phách đầu mạnh,phách cuối nhẹ", mà không cần để ý đến giai điệu cũng như ý nghĩa của nó. 
Cụ thể -trong loại nhịp 2 phách: phách 1 mạnh, phách 2 nhẹ 
-trong loại nhịp 3 phách: phách 1 mạnh, phách 2 vừa, phách 3 nhẹ; 
-trong loại nhịp 4 phách: phách 1 mạnh, phách 2 vừa, phách 3 mạnh vừa, phách 4 nhẹ. Loại cường độ nầy thường dùng cho nhạc vũ đạo, quân hành, sinh hoạt, có tính cách bình dân đaị chúng, hoặc dùng cho người mới học nhạc để tập luyện giữ đúng nhịp. Nó có tính cách máy móc vì không để ý đến ý nghĩa của bài nhạc. 
3.2.Cường độ diễn cảm: là cường độ do tiết tấu hoặc do ý nghĩa lời ca gợi ý. Chính loại cường độ nầy mới tạo "hồn" cho âm nhạc. Cần học phân tích tiết tấu thì mới biết phân phối cường độ sao cho phù hợp với từng dấu nhạc, từng nét, từng vế, từng câu, từng đoạn, từng bài nhạc. 

4. Khi tác giả ghi các ký hiệu về cường độ thì đó cũng chỉ mới là hướng dẫn sơ khởi cho từng chỗ, từng đầu câu mà thôi, chứ không thể ghi chi tiết cường độ của tất cả mọi dấu nhạc trong câu trong bài được. Dù ghi hay không ghi ký hiệu cường độ, chúng ta cũng phải dựa trên tiết tấu của từng câu, từng đoạn và dựa trên ý nghĩa lời ca để phân phối cường độ cho xứng hợp, vì cường độ là yếu tố chủ chốt làm cho bài nhạc có hồn, có sinh khí. Người ca hát có hồn, có tâm tình là người biết dùng cường độ đúng lúc, đúng nơi. Chúng ta không nên dùng cách diễn tấu máy móc của các loại nhạc vũ,nhạc quân hành, nhạc sinh hoạt để diễn tấu các loại nhạc khác, đòi hỏi mức thưởng ngoạn cao hơn.

CHƯƠNG IV
NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CAO ĐỘA. QUÃNG NHẠC:
1. Định nghĩa : Quãng nhạc là khoảng cách âm thanh giữa 2 dấu nhạc. Tên quãng được gọi bằng số. Từ dấu nhạc đầu tiên đến dấu nhạc cuối có bao nhiêu bậc cơ bản thì là quãng bấy nhiêu. 
Thí dụ : Đô-Mi : Có 3 bậc là đô, rê, mi, nên gọi là quãng 3. 
2. Tính chất các quãng : Ngoài tên gọi bằng số, các quãng nhạc còn có tính chất đúng, trưởng, thứ, tăng, bội, giảm tuỳ theo số nửa cung được thêm hay bớt trong cùng một quãng nhạc. 
2.1. Quãng 2 gồm 1 nguyên cung được gọi là q.2 Trưởng (đô-rê, rê-mi …). 
Quãng 3 gồm 2 nguyên cung được gọi là q.3 Trưởng (đô-mi, fa-la, xon-xi, rê-fa# …). 
Quãng 4 gồm 2 nguyên cung và 1/2 cung được gọi là q.4 đúng (đô-la, rê-xon …). 
Quãng 5 gồm 3 nguyên cung và 1/2 cung được gọi là q.5 đúng (đô-xon, rê-la, mi-xi …). 
Quãng 6 gồm 4 nguyên cung và 1/2 cung được gọi là q.6 Trưởng (đồ-lá, fa-rế …). 
Quãng 7 gồm 5 nguyên cung và 2 nửa cung được gọi là q.7 Trưởng (đô-xí, fa-mí …). 
Quãng 8 gồm 5 nguyên cung và 2 nửa cung được gọi là q.8 đúng (đồ-đố, rề-rế …). 
Lưu ý : trong thang âm Đô Trưởng, nếu tính từ Đô trở lên, ta sẽ có các quãng Trưởng hoặc đúng mà thôi. 
Đồ-rê : q.2T ; Đồ-mi : q.3T ; Đồ-fa : q.4đ ; Đồ-xon : q.5đ ; 
Đồ-lá : q.6T ; Đồ-xí : q.7T ; Đồ-đố : q.8đ. 
2.2. Thứ tự tính chất các quãng tính từ nhỏ đến lớn như sau : 
Bội giảm – giảm – thứ – trưởng – tăng – bội tăng 
Riêng các quãng đúng không gọi là thứ, trưởng, mà chỉ có giảm, bội giảm hoặc tăng, bội tăng mà thôi. Như vậy ta có : 
q.2 giảm (đồng âm), 2t, 2T, 2 tăng … 
q.3 giảm, 3t, 3T, 3 tăng … 
q.4 giảm, 4đ, 4 tăng … 
q.5 giảm, 5đ, 5 tăng … 
q.6 giảm, 6t, 6T, 6 tăng … 
q.7 giảm, 7t, 7T, 7 tăng … 
q.8 giảm, 8đ, 8 tăng. 
2.3. Trong thang âm Đô trưởng với 7 dấu cơ bản, ta có thể tạo thành 7 quãng 2, 7 quãng 3, 7 quãng 4, 7 quãng 5, 7 quãng 6, 7 quãng 7, 7 quãng 8. Nhưng tính chất của chúng khác nhau : 
– Q.2 : Có 5q2T (Đồ-rê, rê-mi, fa-xon, xon-la, la-xi) và 2q2t (mi-fa, xi-đô) 
– Q.3 : Có 3q3T (Đô-mi, fa-la, xon-xi), và 4q3t (rê-là, mi-xon, la-đô, xi-rê) 
– Q.4 : Có 6q4đ (Đô-fa, rê-xon, mi-fa, xon-đô, la-rê, xi-mi) và 1q4 tăng (fa-xí) 
– Q.5 : Có 6q5đ (Đô-xon, rê-la, mi-xi, fa-đô, xon-rê, la-mí) và 1q5 giảm (xi-fá) 
– Q.6 : Có 4q6T (fà-rế, xòn-mí, đồ-lá, rề-xí) và 3q6t (mì-đố, la-fá, xì-xón) 
– Q.7 : Có 2q7T (fà-mi, đồ,mí) và 5q7t (rề-đô, mì-rế, xòn-fá, là-xón, xì-lá) 
– Q.8 : Có 7q8đ (đồ-đố, rề-rế, mi-mí, fa-fá, xon-xón, la-lá, xi-xí, đô-đố). 
3. Phân loại : 
3.1. Quãng giai điệu : Hai âm thanh vang lên kế nhau, còn quãng hoà điệu là hai âm thanh vang lên cùng một lúc. 
3.2. Quãng đơn : là quãng 8 trở xuống, còn quãng kép là quãng ngoài quãng 8 (số lớn hơn quãng 8). Tính chất của quãng kép cũng giống như tính chất của quãng đơn tương ứng. Muốn biết quãng đơn tương ứng, ta lấy quãng kép trừ đi 7. Thí dụ quãng 9 – 7 = quãng 2. 
TD 20 

3.3. Quãng lên : Khi dấu đầu thấp hơn dấu cuối. 
Quãng xuống : Khi đấu đầu cao hơn dấu cuối. 
3.4. Quãng thường : Là một quãng có sẵn, nếu ta lấy dấu thấp nâng lên một quãng 8 hoặc lấy dấu cao hạ xuống một quãng 8, ta sẽ có quãng đảo của nó. 
Đồ3 và mi3 là quãng thường, nếu đảo đồ3 lên đô4 ta có quãng đảo đố4-mi3 hoặc nếu đảo mi3 xuống 1 quãng 8, ta sẽ có quãng đảo đồ3-mi2. 

Nguyên tắc 1 : Tổng số quãng thường với quãng đảo tương ứng với nó là 9. Vậy muốn biết quãng đảo ta lấy 9 trừ đi số quãng thường. 
Thí dụ : Ta có quãng 2 ——- quãng đảo là (9 – 2) = 7 
Ta có quãng 3 ——- quãng đảo là (9 – 3) = 6 
Ta có quãng 4 ——- quãng đảo là (9 – 4) = 5 

Nguyên tắc 2 : Tính chất của quãng đảo và quãng thường như sau : 
Đảo 
Đ Đúng 
T t 
tg giảm 


3.5. Quãng thuận là quãng hoà điệu cho ta cảm giác êm tai, còn quãng nghịch là quãng hoà điệu cho ta cảm giác chói tai. Quãng thuận hoàn toàn gồm quãng 1 (đồng âm), quãng 8đ, quãng 5đ, quãng thuận vừa phải gồm q 3T, 3t, 6T, 6t. Quãng hỗn hợp (nửa thuận nửa nghịch) gồm quãng 4đ, còn tất cả các quãng hoà điệu khác đều là quãng nghịch. 
3.6. Các quãng cơ bản (hay diatonic) : là những quãng tạo thành bởi các âm cơ bản (không chuyển hoá) của cùng một thang âm. Trong thang âm Đô Trưởng, ta có 14 loại quãng cơ bản sau : 
1. Q.1 đúng (đồng âm) = 0 cung 
2. Q.2 thứ = 1/2 cung 
3. Q.2T = 1 cung 
4. Q.3 thứ = 1 cung 1/2 
5. Q.3T = 2 cung 
6. Q.4đ = 2 cung 1/2 
7. Q.4 tăng = 3 cung 
8. Q.5 giảm = 3 cung 
9. Q.5 đúng = 3 cung 1/2 
10. Q.6t = 4 cung 
11. Q.6T = 4 cung 1/2 
12. Q.7t = 5 cung 
13. Q.7T = 5 cung 1/2 
14. Q.8đ = 6 cung 
Còn tất cả các loại quãng tăng hoặc giảm khác đều gọi là quãng Chromatic. 
3.7. Quãng trùng âm là 2 quãng phát ra những âm thanh giống nhau, nhưng tên gọi các dấu làm thành quãng khác nhau : 
Thí dụ : Quãng 2 tăng và quãng 3 thứ là 2 quãng trùng âm (cùng có 1 cung 1/2) 
Quãng 7 giảm và quãng 6 Trưởng là 2 quãng trùng âm (cùng có 4 cung 1/2) 
hoặc : Quãng fa# – xon# (2T) trùng âm với xonb-lab (2T) 
Quãng fa# – xi (4đ) trùng âm với xonb – đôb (4đ). 
TD 23 

B. thang âm và hệ thống âm thanh 
1. Thang âm là chuỗi các âm thanh liên tiếp nhau trong vòng một quãng 8. Có nhiều loại thang âm khác nhau tuỳ theo số lượng các bậc cơ bản (chẳng hạn thang ngũ âm có 5 bậc cơ bản, thang thất âm có 7 bậc cơ bản) và tuỳ theo khoảng cách độ cao giữa các bậc cơ bản (chẳng hạn thang ngũ âm thông thường và ngũ âm ngoại thường, thang thất âm trong bình ca và thất âm trong nhạc cổ điển). 
TD 24 

2. Thang ngũ âm thông thường : là thang âm gồm năm dấu nhạc phát sinh do chu kỳ quãng 5 liên tiếp. Dấu đầu của chu kỳ quãng 5 đó là tên gọi của thang âm. 
Thí dụ : thang ngũ âm Đô : Đô-xon-rê-la-mi. 
TD 25 

Thu gọn các dấu lại trong một bát độ, ta sẽ có đô-rê-mi-xon-la. 
2.1. Trong thang ngũ âm Đô này, ta thấy có 3 dấu nhạc đi gần nhau hơn cả, đó là đô-rê-mi cách nhau từng cung một, tiếng chuyên môn gọi là pycnon (nhóm 3 dấu liền nhau). Người ta căn cứ trên pycnon mà đặt tên cho vị trí. Dấu đầu của pycnon là Đô thì ta gọi là thang âm ở vị trí Đô (dấu đô là dấu phát sinh ra thang âm thì đồng thời cũng là tên của vị trí thang âm). 
2.2. Thang ngũ âm thông thường có thể viết ra 5 dạng khác nhau : 
– Dạng 1 : Đô-rê-mi – xon-la (đô) 
– Dạng 2 : Xon-la – đô-rê-mi (xon) 
– Dạng 3 : Rê-mi – xon-la - đô (rê) 
– Dạng 4 : La - đô-rê-mi – xon (la) 
– Dạng 5 : Mi – xon-la – đô-rê (mi). 
Như vậy “Dạng” chỉ là một cách liệt kê thang âm bắt đầu bằng bất cứ dấu nào. 
TD 25a (5 dạng) 

Khi trong mỗi dạng đã có một sự sắp xếp, tổ chức cung bậc (có bậc chính, bậc phụ) ta gọi đó là một hệ thống. 
TD 25b (3 hệ thống) 
2.3. Trong dân ca Việt Nam, người ta thường xuyên dùng 3 hệ thống, mà nhạc sĩ Hải Linh tạm đặt tên bằng số là hệ thống 1, 2, 3 (tương ứng với Vui, Thương, Mừng, theo tên gọi các mùa Phụng Vụ trong đạo Công Giáo). 
– Hệ thống 1 : Đô-rê-mi-xon-la (đô), (trong đó đô-xon là dấu trụ chính, mi là dấu trụ phụ, rê-la là dấu phụ). 
TD 26a 


TD 26b 

– Hệ thống 2 : La – đô – rê – mi – xon – (La), (trong đó la – mi là trụ chính, đô là trụ phụ, rê – xon là dấu phụ). 
TD 27 

– Hệ thống 3 : Rê-mi-xon-la-đô (Rê), (trong đó rê-la là trụ chính, xon là trụ phụ, mi-đồ là dấu phụ). 
TD 28 

· Bài này dùng kỹ thuật ‘phong phú hóa’ lời thơ bằng những tiếng đệm có nghĩa và không có nghĩa : ‘ơi a’ ; ‘ơ’ ; ‘tình tình’… 
a) Các dấu trụ đứng cách nhau quãng 5 đúng hoặc 4 đúng, làm thành bộ sườn vững chắc cho hệ thống. Ngoài ra có dấu trụ phụ nằm giữa quãng 5 (xem thí dụ 25b). 
b) Mỗi hệ thống có cơ cấu cung bậc khác nhau, nên cũng cho chúng ta một cảm giác âm thanh khác nhau : 
n Hệ thống 1 : thường vui tươi, sáng sủa (như trong mùa vui (GS) của Công Giáo) (có tính cách tương tự thể trưởng của thất âm). 
n Hệ thống 2 : thường buồn, tối (như trong mùa thương của Công Giáo) (có tính cách tương tự thể thứ tự nhiên của thất âm). 
n Hệ thống 3 : thường oai hùng, khải hoàn (như trong mùa mừng của Công Giáo) (không có gì tương đương với nó ở trong thất âm cả, có tác giả gọi nó là Siêu trưởng (Super-majeur). 
c) Trong dân ca, chỉ có một số ít bài hát ở trong một hệ thống thuần tuý. Đa số là những bài pha trộn 2 hoặc 3 hệ thống với nhau, gọi là loại bài chuyển hệ. 

TD 29 

2.4 Ngoài ra, đa số các bài dân ca không nằm mãi trong một vị trí mà thường thay đổi vị trí, gọi là bài chuyển vị. Thí dụ đang ở vị trí đô thì chuyển sang vị trí Fa (fa-xon-la-đô-rê) (xem bài Lý cây đa) hoặc chuyển lên vị trí xon (xon, la, xi, rê, mi), (xem bài 36 thứ chim …). Từ vị trí ban đầu thường thấy chuyển đi 4 vị trí khác, chuyển lên 2 cỡ và xuống 2 cỡ. 
Thí dụ : Vị trí khởi đầu : Vị trí Đô (Đô-rê-mi-xon-la) 
– Chuyển xuống 1 cỡ : Vị trí Fa (fa-xon-la-đô-rê) (xem thí dụ 26a) 
– Chuyển lên 1 cỡ : Vị trí Xon (xon-la-xi-rê-mi) 
– Chuyển xuống 2 cỡ : Vị trí Xib (xib-đô-rê-fa-xon) 
– Chuyển lên 2 cỡ : Vị trí Rê (rê-mi-fa#-la-xi) 
(Xem chi tiết hơn trong giảng khoá về Dân ca, chương trình Ca trưởng III). 
2.5. Ngoài việc chuyển hệ làm thay đổi màu sắc vui buồn, trong dân ca còn có hiện tượng chuyển hơi : Hơi bắc, hơi ví dặm, hơi nam ai, hơi nam xuân hơi oán, hơi quảng … làm cho nét nhạc có nhiều sắc thái, diễn tả được nhiều trạng huống của lòng người. 
TD 30 : Bài lý ngựa ô Bắc (chuyển từ hơi Bắc (I), sang hơi Xuân (II). Kèm theo chuyển vị xuống 1 cỡ : VTFa —> VTXib. 
TD 30 

3. Ngoài ngũ âm thông thường, dân ca Việt Nam còn sử dụng thang ngũ âm ngoại thường như thang âm Tây Nguyên và thang âm oán. 
3.1. Thang âm Tây Nguyên ở vị trí đô : Đô – mi – fa – xon – xi – (đô) (xem bài Chiêng trống cồng và Anh ở buôn làng). (2c) (1/2c) (1c) (2c) (1/2c) 
Thang âm Tây Nguyên nếu khéo dùng có thể cho cảm giác hùng tráng của núi rừng, sự gần gũi với thiên nhiên trong lao động trên nương rẫy, hay quanh đống lửa lúc đêm về… Nếu không khéo, sẽ cho cảm giác thê lương, ảm đạm do hai nửa cung đem lại (đôi khi bài Thánh ca dùng thang âm Tây Nguyên cho cảm giác mới lạ, nhưng hoàn toàn không phù hợp với bầu khí phụng vụ). 
3.2 Thang âm oán : là thang ngũ âm ngoại thường biến hoá từ hơi Nam Ai. Hơi Nam Ai chủ yếu thuộc hệ thống 2 của thang âm thông thường. Chúng ta so sánh thang âm Nam Ai và thang âm oán. 
Trong thang âm oán vị trí Đô, dấu đô# (âm II) hát cao hơn khoảng 1/4 cung rất gần với dấu Rê (âm III), còn dấu fa rất gần với Mi (âm IV), thấp hơn fa thông thường khoảng 1/4 cung. Dấu fa# cũng thấp hơn thông thường khoảng 1/4 cung. Như vậy âm II và âm IV là những âm di động, tuỳ theo đó mà ta có 5 biến thể khác nhau. 
Vị trí Đô 1. La đô rê mi fa# la Vị trí Fa 1. Rê fa xon la xi rê 
2. La đô# rê mi fa# la 2. Rê fa# xon la xi rê 
3. La đô rê mi fa la 3. Rê fa xon la xib rê 
4. La đô# rê mi fa la 4. Rê fa# xon la xib rê 
5. La đô# rê mi xon la 5. Rê fa# xon la đô rê 
(Xem các bài Dân ca : Lý chiều chiều, Lý ba tri, Lý xăm xăm, Lý che hường …). Mỗi biến thể có thể cho một cảm giác khác nhau (sẽ học trong giảng khoá về dân ca). 
TD 31 
3.3 Tại Nhật bản cũng có thang ngũ âm ngoại thường. Ở vị trí Đô thì thang âm Nhật bản đó lấy cột trụ của hệ thống 2 : La – xi – đô mi fa la, với 2 dấu xi và fa tạo thành 2 nửa cung, làm cho nét nhạc vốn buồn lại buồn thêm (Xem bài Sakura, Hoa anh đào). 
TD 32 : Ngũ âm Nhật Bản 
4. Thang thất âm thông dụng hiện nay gồm 7 dấu nhạc liên tiếp khác tên Đô rê mi fa xon la xi (đô). Với 7 dấu nhạc này chúng ta cũng có thể có 7 dạng thang âm : 
Bấm vào để xem.
4.1. Dạng 1 với Đô – xon là dấu trụ chính và Mi làm trụ phụ, và với cơ cấu cung bậc ổn định : 1c – 1c – 1/2c – 1c – 1c – 1/2c được gọi là thang thất âm ở vị trí Đô, thể trưởng (h.t.1) hoặc như người ta thường gọi là thang âm Đô trưởng tự nhiên. Đây là thang âm được dùng phổ biến từ thời cổ điển cho đến nay. (Nhạc Hy-lạp gọi là thể Lydien ; tương đương với thể Tritus có xib của Bình ca). 
4.2. Dạng 2 với Rê – la làm dấu trụ, thang âm được người Hy-lạp trình bày từ cao xuống trầm gọi là thể Phrygien. Còn nhạc Bình ca gọi là thể Protus với dấu xi thường hoặc xi giáng (khi dùng xi giáng thì thể Protus có cơ cấu cung bậc giống như ở dạng 6). 
4.3. Dạng 3 với Mi – xi hoặc La làm dấu trụ, nhạc Hy-lạp gọi là thể Dorien. Còn nhạc Bình ca dùng dấu trụ Mi và Xi hoặc Đô, gọi là thể Deuterus với dấu xi thường, ít có xi giáng hơn (Khi có xib thì nó tương đương với dạng 7 : xi đô rê mi fa xon la (xi) = mi fa xon la xib đô rê (mi)). 
4.4. Dạng 4 với Fa – đô làm dấu trụ, nhạc Hy-lạp gọi là thể Hypolydien. Còn nhạc Bình ca gọi là thể Tritus với dấu xi thường hoặc xi giáng (Khi dùng xi giáng thì thể Tritus có cơ cấu cung bậc giống như Đô Trưởng tự nhiên). 
4.5. Dạng 5 với Xon – rê làm dấu trụ, nhạc Hy-lạp gọi là thể Hypophrygien (Iastien). Cò nhạc Bình ca gọi là thể Tetrardus với dấu xi thường và đôi khi xi giáng. 
4.6. Dạng 6 với La – mi làm trụ chính, đô làm trụ phụ, với cơ cấu cung bậc ổn định : 1c – 1/2c – 1c – 1c – 1/2c – 1c – 1c được gọi là thang thất âm ở vị trí Đô thể thứ (h.t.2) hoặc như người ta thường gọi là thang âm la thứ tự nhiên. Thang âm này cùng với thang âm Đô trưởng là 2 thang âm tương ứng hay song song hoặc cùng vị trí, nhưng tính cách tương phản nhau được dùng phổ biến từ thời cổ điển đến nay (nhạc Hy-lạp gọi là thể Hypodorien (hoặc Eolien) ; tương đương với thể Protus có xib của nhạc Bình ca). 
4.7. Dạng 7 với Xi – mi làm dấu trụ, nhạc Hy-lạp gọi là thể Mixolydien (Iônien). Nhạc Bình ca không dùng loại này, nhưng dùng nó để chuyển dịch thể Deuterus khi thể này thường xuyên dùng xi giáng (xem riêng về các thể nhạc Bình ca ở Ca trưởng II). 
5. Thang thất âm vị trí Đô hiện nay người ta chỉ dùng phổ biến 2 hệ thống có tính cách đối chọi nhau gọi là thể Trưởng và thể thứ, và người ta lấy dấu đầu của mỗi dạng thang âm để gọi tên thang âm : Thang thất âm ở vị trí Đô. 
– cung Đô thể Trưởng tự nhiên gọi tắt là thang âm Đô T/tn 
– cung La thể Thứ tự nhiên gọi tắt là thang âm La t/tn 
5.1. Tổ chức cung bậc trong cả hai lại thang âm T/t đều có tên gọi như nhau : 

a) Dấu Fa – đô – xon nằm cách nhau q.5. Dấu đô là trung tâm nên gọi là chủ âm (T), kế đến là dấu xon có tầm quan trọng thứ hai trong thang âm, gọi là Át âm (D), dấu fa có tầm quan trọng thứ ba về mặt hoà âm, gọi là Át âm hạ (S). Các dấu La và Mi nằm giữa các dấu Át âm và chủ âm nên gọi là Trung âm hạ (Mh) và trung âm thượng (Mt). Các dấu xi và rê là hai dấu bị hút về chủ âm : xi bị hút lên, gọi là âm dẫn lên ; rê bị hút xuống, gọi là âm dẫn xuống. 
b) Xét về mặt giai điệu, thì trong thang âm, các âm thanh không có tầm quan trọng giống nhau, nhưng chúng có mối tương quan chính và phụ với nhau. Trong số các âm chính (dấu trụ) thì nổi bật hơn cả là chủ âm, kế đó là Át âm, rồi tới Trung âm (thượng). Còn các âm phụ (dấu phụ) thì bị hút về âm chính ít hay nhiều tuỳ theo nó đứng cách âm chính chính quãng 2 thứ hay 2 Trưởng. 
Các dấu trụ là những dấu ổn định của hệ thống. Khi học xướng âm, trong lúc đầu ta sẽ dựa trên các dấu trụ để đọc các dấu phụ (không ổn định) : 
Trong Đô T : bậc II và bậc VII dựa vào chủ âm (bậc I) 
bậc IV dựa vào Trung âm thượng (bậc III) 
bậc VI dựa vào Át âm (bậc V). 
Trong La thứ tự nhiên, sức hút các dấu trụ không rõ nét như trong Đô tự nhiên. 
Chủ âm La không hút các dấu phụ bằng Át – âm Mi và trung âm Đô (trong luật âm vang tự nhiên, thiên nhiên cho chúng ta thang âm Trưởng chứ không cho chúng ta thang âm thứ ; thang âm thứ có thể nói là một sự gò ép thiên nhiên do con người tạo ra). 
5.2. Các loại thang âm trưởng : ngoài thang âm Trưởng tự nhiên theo mẫu của Đô Trưởng như vừa nêu ở trên, người ta tạo ra thang âm trưởng hoà âm và thang âm trưởng giai điệu như sau : 
Trưởng hoà âm = trưởng tự nhiên nhưng bậc VI được hạ xuống 1/2 cung để tăng thêm sức hút của bậc V đối với bậc VI : Đô rê mi fa xon lab xi đô. 
Trưởng giai điệu = trưởng hoà âm thêm bậc VII hạ xuống 1/2 cung : Đô rê mi fa xon lab xib đô, thường dùng ở nét nhạc đi xuống : để tránh q.2 tăng (Đô xi lab) : Đô xib lab xon fa mi rê đô (phần đầu giống la thứ tự nhiên). 
5.3. Âm thể trưởng (điệu thức trưởng) là tính cách do các dấu ổn định (dấu trụ) nối tiếp nhau hay chồng lên nhau theo q.3 tạo thành hợp âm Trưởng 3 dấu. 

Còn các dấu không ổn định (dấu Phụ) nằm xen kẽ với các dấu trụ theo cơ cấu cung bậc như sau : 1c – 1c – 1/2c – 1c – 1c – 1c – 1/2c. 
a) Tính cách của âm thể Trưởng thường vui tươi, khoẻ mạnh, sáng sủa. Tuy nhiên cũng có những bài thuộc thể trưởng, nhưng tính cách vẫn buồn, do cách tác giả nắn giai điệu (thí dụ : Xuân Ca, Than Hang Đá). 
b) Cung (giọng) là độ cao dựa vào đó để sắp xếp âm thể (tương đướng với vị trí trong ngũ âm). Trên thực tế đó là tên cao độ của chủ âm (thí dụ : cung đô trưởng = thang thất âm mà chủ âm là Đô và thể là Trưởng = thang thất âm vị trí Đô, âm thể trưởng). Thường người ta dùng các chữ cái La-tinh để ghi các cung giọng : 
C/CM (C Majeur)/C – dur = Đô Trưởng 
a/Am (A mineur)/a – moll = La thứ 
5.4 Các loại thang âm thứ : ngoài thang âm thứ tự nhiên dựa trên mẫu của thang âm la thứ tự nhiên, người ta còn tạo ra thang âm thứ nhân tạo hoà âm và giai điệu. 
a) Thang âm thứ (nhân tạo) hoà âm có dấu bậc 7 tăng lên 1/2 cung. Trong hoà âm, người ta cũng muốn cho dấu bậc 7 (là dấu cảm âm) cũng có tính cách hướng về chủ âm như trong thang âm Trưởng, nên thường khi gặp dấu 7 trong la thứ là người ta tăng lên 1/2 cung, khiến cho hợp âm bậc V trong la thứ trở thành hợp âm trưởng. 

b) Thang âm thứ (nhân tạo) giai điệu : Trong giai điệu, nếu dùng thang âm thứ hoà âm ở nét nhạc đi lên, thì ta sẽ gặp quãng 2 tăng (fa – xon#) là một quãng khó hát, nên người ta phải tăng cả dấu bậc 6 lên 1/2 cung để tránh quãng 2 tăng đó. Do đó ta có thang âm thứ giai điệu, khi nét nhạc đi lên. Còn khi nét nhạc đi xuống thì người ta lại dùng như trong thang âm thứ tự nhiên. 

5.5. Âm thể thứ (Điệu thức thứ) là tính cách trong đó các dấu ổn định (dấu trụ) của thang âm (nối tiếp hoặc chồng lên nhau) tạo thành hợp âm thứ 3 dấu : La – Đô – Mi. 

Còn các dấu không ổn định (dấu phụ) nằm xen kẽ với các dấu trụ theo cơ cấu cung bậc như sau : 1c – 1/2c – 1c – 1c – 1/2c – 1c – 1c. 
a) Tính cách của âm thể thứ thường u buồn, lắng dịu, trữ tình, nhưng thể thứ tự nhiên vững chãi, hy vọng, ít uỷ mị hơn thể thứ hoà âm. Còn thể thứ giai điệu bắt chước nét nhạc của thể trưởng, nên cho cảm giác phấn khởi, vui tươi hơn. 
b) Cung (giọng) của âm thể thứ bao giờ cũng là tên dấu nhạc nằm dưới cung Trưởng tương ứng một quãng 3t. 
Thí dụ : Đô T ______ La t ; Xon T ______ mi t. 
6. Các loại thang âm. 
6.1. Xét về âm thể, thì có 2 loại chính là Trưởng và thứ. Khi thang âm Trưởng và thứ ở cùng vị trí thì chúng được gọi là 2 thang âm tương ứng hay song song, vì chúng cùng dùng chung các dấu cơ bản, chỉ khác là vai trò chính phụ của chúng. 
Thí dụ : Đô T tương ứng La t ; Fa T tương ứng Rê t. 
6.2. Xét về cung giọng (vị trí) ta có các loại : 
a) Thang âm tương tiếp là những thang âm mà vị trí của chủ âm nằm cách nhau q.5đ đi lên hoặc đi xuống liên tiếp 
G —> D —> A —> E —> H —> F# —> C# —> G# —> D# —> A# —> E# 
C 
F —> B —> Eb —> Ab —> Db —> Gb —> Cb —> FFb —> Hbb —> Ebb —> Abb 
(E#) (A#) (D#) (G#) (C#) (H) (E) (A) (D) (G) 
Ghi chú : các thang âm ở trong ngoặc là thang âm đồng âm với các thang âm nằm trên nó. 
a1) – Chúng ta biết thang âm Đô T gồm 2 tứ liên âm có cơ cấu giống nhau : 


Dấu nhạc khởi đầu hai tứ liên âm cách nhau 1q.5đ, dấu cuối của tứ liên âm dưới cách dấu đầu của tứ liên âm trên một cung. 
a2) – Muốn thiết lập các thang âm tương tiếp đi lên, thì ta lấy TLÂ trên làm khởi đầu cho một thang âm mới, và xếp tiếp các dấu còn lại thành tứ liên âm theo cơ cấu 1c – 1c – 1/2c. 

Và như vậy ta có thang âm Xon T với dấu fa#, Ta có Rê T với fa# và đô#. Và nếu tiếp tục, ta sẽ có La T với fa# đô# xon#, … Xi T với fa# đô# xon# rê# la# … 
a3) Thứ tự các thang âm Trưởng có dấu thăng (hoặc thang âm tương tiếp đi lên) thì nằm cách nhau quãng 5 đi lên, và thứ tự các dấu thăng cũng cùng đi lên từng quãng 5 bắt đầu bằng dầu fa#. 
a4) Muốn biết tên các thang âm Trưởng có dấu thăng, ta thêm 1/2 cung vào dấu thăng cuối cùng ở khoá biểu ta sẽ có tên của chủ âm thang âm Trưởng. 

a5) Muốn thiết lập các thang âm tương tiếp đi xuống, ta lấy tứ liên âm dưới làm TLÂ trên cho một thang âm mới, và tiếp tục xếp các dấu còn lại cũng theo cơ cấu 1c – 1c – 1/2c : 

Và như vậy ta có thang âm Fa T với xib, và nếu tiếp tục ta sẽ có Xib T với xib mib, Mib T với xib mib lab, Lab T với xib mib lab rêb, Rêb T với xib mib lab rêb, Xonb T với xib mib lab rêb xonb đôb. 
a6) Thứ tự các thang âm Trưởng có dấu giáng (hoặc có thang âm tương tiếp đi xuống) thì nằm cách nhau q.5 đi xuống, và thứ tự các dấu giáng cũng đi xuống từng q.5, bắt đầu từ dấu xib. 
a7) Muốn biết tên thang âm Trưởng có dấu giáng, ta lấy ngay tên dấu giáng áp chót (trước dấu cuối cùng) : 

b) Thang âm đồng nguyên là hai thang âm cùng cung giọng (tức cùng tên chủ âm) nhưng âm thể khác nhau (tính cách khác nhau). 
Thí dụ : C : Đô – rê – mi – fa – xon – la – xi – (đô) (Đô Trưởng) 
Cm : Đô – rê – mib – fa – xon – lab – xi(b) – (đô) (Đô thứ) 
So sánh hai thang âm đồng nguyên, ta thấy được rằng các dấu bậc 3 và bậc 6 trong thang âm thứ thấp hơn trong thang âm trưởng nửa cung. Do đó người ta gọi bậc 3 và bậc 6 là bậc định thể (xác định âm thể trưởng hoặc thứ). Riêng bậc 7 trong âm thể thứ hoà âm thì cũng giống như thể Trưởng. 
c) Thang âm đồng âm là những thang âm khác tên gọi chủ âm, nhưng cao độ chủ âm giống nhau. 
Thí đụ : Đô# T = Rêb T ; Ab T = G# T (xem bảng ở số 6.2a) 
Như vậy xét cho cùng chỉ có 12 thang âm có cao độ khác nhau 
1. C (= H#) 2. G (= Abb) 3. D (= Ebb) 
4. A (= Hbb) 5. E (= Fb) 6. H (= Cb) 
7. F# (= Gb) 8. C# (= Db) 9. G# (= Ab) 
10. D# (= Eb) 11. A# (= B) 12. E# (= F) 
Hai thang âm đồng âm luôn có tổng số các dấu hoá ở bộ khoá là 12 : 
(Thí dụ Db có 5b đồng âm với C# có 7 # ; F# có 6# đồng âm với Gb có 6b …)